Lưu trữ

Hành trình 102 năm, ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước

Bác Hồ Cảng SaigonNgày này, cách đây vừa tròn 102 năm, vào ngày 05/6/1911 tại Bến cảng Nhà Rồng, thành phố Sài Gòn – Gia Định (Nay là thành phố Hồ Chí Minh) người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành khi đó mới vừa tròn 21 tuổi đã lên chiếc tàu mang tên Amiral La Touche De Tréville, ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân.

Cuộc hành trình của Người đã qua 3 đại dương, 4 châu lục và gần 30 quốc gia trên thế giới, đã đưa Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, học thuyết cách mạng tiên phong của thời đại.

Sinh ra và lớn lên trong bối cảnh nước mất, nhà tan, các thế hệ người dân Việt Nam lúc bấy giờ đều mong muốn đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc. Nguyễn Tất Thành sớm thấu hiểu tình cảnh nước mất, nhà tan và nỗi thống khổ của nhân dân, Người quyết định phải tìm ra con đường đúng đắn, nhằm đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược để cứu nước, cứu dân. Khi rời Bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm một con đường mới cho cuộc đấu tranh giành độc lập tự do cho dân tộc, người thanh niên Nguyễn Tất Thành chỉ nung nấu một ý chí với quyết tâm cháy bỏng đó là: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”.

Nguyễn Ái Quốc đã đi qua gần 30 nước ở châu Á, châu Âu, châu Phi, châu Mỹ và Người đã rút ra kết luận là chủ nghĩa đế quốc, thực dân là cội nguồn của mọi đau khổ cho giai cấp công nhân và nhân dân ở các nước chính quốc cũng như thuộc địa. Cũng từ đây, Người đã tìm đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp cuối năm 1920 và xác định con đường cứu nước, con đường giải phóng dân tộc đúng đắn: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức, bóc lột và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”.

Thời gian từ năm 1921 đến năm 1930, Nguyễn Ái Quốc ra sức truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị về lý luận cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Với tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” và “Đường Kách Mệnh”, đặc biệt là việc xuất bản tờ Báo Thanh niên ra ngày 21/6/1925, Người đã chuẩn bị về đường lối chính trị để tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Cũng trong thời gian này, Người đã tập trung cho việc chuẩn bị về tổ chức và cán bộ với việc Người lập ra Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (1925), tổ chức nhiều lớp đào tạo cán bộ và gửi đi học ở Liên Xô … Khi điều kiện thành lập Đảng đã chín muồi, ngày 03/02/1930, tại Hương Cảng (Trung Quốc), dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị đã hợp nhất 3 tổ chức Cộng sản thành lập một đảng thống nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản có ý nghĩa như là một Đại hội thành lập Đảng.

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã đánh dấu một bước ngoặc vĩ đại của cách mạng Việt Nam, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối chính trị, về con đường cứu nước, cứu dân, thống nhất đất nước, thoát khỏi ách áp bức, bóc lột của thực dân, phong kiến, thoát khỏi bần cùng, đói nghèo và lạc hậu.

Mùa Xuân năm 1941, sau 30 năm bôn ba nước ngoài, rời xa Tổ quốc, Người về nước trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công; ngày 02/9/1945, Người đã đọc Bản Tuyên ngôn độc lập; khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, đánh dấu một mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam; minh chứng cho sự lãnh đạo tài tình, đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập rèn luyện.  

Tháng 12/1946, trước dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân Pháp, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chi Minh đã phát động toàn quốc kháng chiến với quyết tâm: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta lần lượt đánh bại các kế hoạch chiến tranh của thực dân Pháp mà đỉnh cao là Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, ngày 07/5/1954. Thắng lợi của Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ và việc ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 đã chấm dứt sự thống trị của thực dân Pháp ở nước ta, mở đầu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên thế giới, giải phóng hoàn toàn miền Bắc, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương vững chắc cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Giai đoạn từ năm 1954 – 1975, Đảng ta lãnh đạo nhân dân ta tiến hành đồng thời hai cuộc chiến lược cách mạng: Cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Đối với cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh tàn bạo của đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai nguỵ Sài Gòn, giành nhiều thắng lợi vẻ vang. Đánh bại các chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”“Chiến tranh cục bộ”, “Việt Nam hoá chiến tranh” ở miền Nam Việt Nam và các cuộc tập kích bằng không quân, hải quân của đế quốc Mỹ vào miền Bắc. Với cuộc Tổng tiến công và  nổi dậy Mùa Xuân năm 1975, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử toàn thắng, kết thúc 30 năm đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, chấm dứt chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở Việt Nam, giang sơn thu về một mối, hai miền Nam – Bắc sum họp một nhà, đưa cả nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là một trong những trang sử chói lọi nhất của lịch sử dân tộc và có tính chất thời đại sâu sắc, mở ra một kỷ nguyên mới cho lịch sử nước ta – Kỷ nguyên của một nước Việt Nam độc lập, thống nhất.

Từ 1975 đến nay, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân tiến hành công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; tiếp tục phát triển tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Hệ thống quan điểm về lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về đường lối đổi mới, về xây dựng và chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới được bổ sung và phát triển ngày càng hoàn thiện. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, qua hơn 25 thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước ta đã giành được những thắng lợi to lớn và có ý nghĩa quan trọng. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng hoàn thiện. Đời sống vật chất, văn hoá và tinh thần của nhân dân ta ngày càng được cải thiện, nâng cao. Hệ thống chính trị và khối Đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng được củng cố, mở rộng và giữ vững.

Sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước; phát huy truyền thống cách mạng, truyền thống yêu nước vẻ vang của dân tộc, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta ra sức khắc phục hậu qủa nặng nề do chiến tranh để lại, cùng nhau chung sức chung lòng xây dựng đất nước; đưa đất nước sớm ra khỏi tình trạng kém phát triển. Chính từ những quan điểm, nhận thức đúng đắn, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội; mà Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã quyết định thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước, mà bắt đầu từ đổi mới tư duy, đã đưa đất nước ta vượt qua mọi khó khăn thách thức, những trì trệ do cơ chế quan liêu bao cấp để lại. Đường lối, sáng tạo tuyệt vời đó của Đảng ta đặt nền tảng cho sự nghiệp cách mạng vĩ đại chưa từng có cho dân tộc Việt Nam.

Với dân tộc Việt Nam ngày nay, sống trong thời đại hoà bình, thời đại Hồ Chí Minh, chưa bao giờ lịch sử dân tộc Việt Nam lại có những bước tiến thần kỳ, một thời đại mà cả dân tộc Việt Nam vững tin tiến bước dưới ngọn cờ vinh quang của Đảng; Đảng đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống kẻ thù chung để giành lại độc lập tự do cho dân tộc, đem lại hạnh phúc ấm no cho nhân dân, xoá đi kiếp sống nô lệ lầm than; từ một nước chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, nhưng lại thiếu lương thực để nuôi sống con người, đã vươn lên trở thành một nước xuất khẩu gạo đứng thứ nhất trên thế giới.

Hơn 80 năm qua, hoạt động của Đảng ta đã làm cho đất nước, con người Việt Nam thay đổi hoàn toàn, từ một xã hội lầm than, vươn lên một xã hội tươi sáng; Đó là đạo đức cao cả của Đảng và cũng là ước mơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là làm sao cho nhân dân Việt Nam ta “ai ai cũng có cơm ăn, áo mặc, có nhà để ở, được học hành…” chính vì thế mà trong hơn 80 năm qua một chặng đường dài lịch sử đầy thử thách, gian khổ và hy sinh, Đảng ta luôn là người tổ chức và lãnh đạo duy nhất mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Đảng tin dân, biết dựa vào dân; dân tin Đảng và kiên quyết đi theo con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn; từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đến nay, toàn dân tộc Việt Nam luôn hãnh diện vì có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân tiếp tục sự nghiệp đổi mới của đất nước; ngày nay vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng lên, đây là một cơ hội để đất nước Việt Nam vững tin tiến bước trong thời kỳ hội nhập Quốc tế và cũng là một kỳ vọng của nhân dân vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng mãi mãi là niềm tin hy vọng, tư tưởng Hồ Chí Minh vĩ đại mãi mãi là ngọn cờ đưa đường, chỉ lối cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, anh dũng tiến lên đưa Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng đi vào cuộc sống, vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Từ chuyến đi lịch sử của 102 năm về trước, Bác Hồ đã tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam rực rỡ cho đến ngày nay. Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất của nhân loại, Người đã sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh.

Tự hào về Đảng quang vinh, về Bác Hồ vĩ đại, mỗi người dân Việt Nam dù ở trong hay ngoài nước càng thấy rõ hơn trách nhiệm, nghĩa vụ của mình tích cực tham gia xây dựng Đảng, chính quyền ngày càng trong sạch vững mạnh, xây dựng và phát huy sức mạnh khối Đại đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế; trước mắt cần tích cực thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng; thiết thực đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng vào cuộc sống.

Theo http://www.ubmttq.hochiminhcity.gov.vn
Huyền Trang (st)

“Người đi tìm hình của Nước”

Nguoi di tim hinh cua nuoca

Tàu Đô đốc La-tu-sơ Tơ-rê-vin, nơi người thanh niên Nguyễn Tất Thành làm phụ bếp khi rời Tổ quốc đi tìm đường cứu nước (6/1911). Ảnh internet

Chắc hẳn trong mỗi chúng ta đều đã một lần được nghe, được đọc, được suy ngẫm và rưng rưng xúc động về bài thơ “Người đi tìm hình của Nuớc” của nhà thơ Chế Lan Viên. Có thể nói, mỗi vần thơ cất lên như chứa đựng bao nỗi niềm của tình cảm, sự tự hào, hãnh diện, kính trọng và biết ơn công lao trời bể của nhà thơ nói riêng và nhân dân Việt Nam nói chung đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hành trình suốt cuộc đời phấn đấu vì một lý tưởng cao đẹp, từ ngày ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911) trở thành nhà hoạt động cách mạng kiên cường và bền bỉ cho đến hơi thở cuối cùng (2/9/1969) đưa đất nước và dân tộc đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Đất nước đẹp vô cùng. Nhưng Bác phải ra đi
Cho tôi làm sóng dưới con tàu đưa tiễn Bác
Khi bờ bãi dần lui làng xóm khuất
Bốn phía nhìn không một bóng hàng tre

Nguoi di tim hinh cua nc 2

Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp tháng 12/1920Ảnh internet

Mỗi lần đọc những dòng thơ trên, trước mắt ta như thấy giây phút thiêng liêng: Đó là hình ảnh của một chàng trai yêu nước tên Ba, tuổi mười tám đôi mươi đã quyết tâm ra đi tìm con đường cứu nước vào ngày 5-6-1911 trên con tàu Đô đốc La-tu-sơ Tơ-rê-vin tại bến cảng Sài Gòn (thành  phố Hồ Chí Minh). Trong chuyến hành trình đầu tiên đó, Bác đã đến Sing-ga-po, Cô-lôm-bô, Po Xa-ít, rồi Đa-răng Mác-xây và ngày 15 tháng 7, Bác đến Lơ Ha-vrơ, cảng chính của miền Bắc nước Pháp.

Với niềm xúc động chân thành, nhà thơ Chế Lan Viên đã cảm nhận sâu sắc nỗi lòng của Người trong những ngày tháng lênh đênh trên đại dương bao la, xa lạ. Bác đã quyết chí ra đi tìm ánh sáng cho dân tộc giữa mùa bão tố tháng sáu với một trái tim vĩ đại mang trọn tình yêu quê hương đất nước. Từ buổi trưa đó, Bác bước vào cuộc đời của một người lao động cực khổ để ra đi và để rồi:

Đêm xa Nước đầu tiên, ai nỡ ngủ
Sóng vỗ dưới thân tàu đâu phải sóng quê hương
Trời từ đây chẳng xanh màu xứ sở
Xa Nước rồi, càng hiểu Nước đau thương

Vần thơ thật sâu lắng, giàu cảm xúc như hồi tưởng lại tâm sự của Bác Hồ trong “đêm xa Nước đầu tiên”, tưởng chừng như có thể thấy mỗi đau mất nước ngày đêm giày vò Người; hình ảnh của Người trằn trọc không ngủ trong những đêm dài lênh đênh nơi xứ lạ. Người ra đi thầm lặng, đơn độc trên con tàu vượt đại dương nhưng trong lòng vẫn luôn khắc khoải, canh cánh, day dứt một nỗi niềm mang tên “tình đất nước”, “vận mệnh dân tộc”. Xúc cảm của người xa xứ pha lẫn nỗi đau thương da diết vì mất Nước thật nghẹn ngào khi đồng bào còn chìm đắm trong bùn đen nô lệ, cam chịu sự thống trị của thực dân, đế quốc. Tàu càng đi xa, tiếng sóng càng trở nên xa lạ, nỗi đau như tăng dần lên “xa Nước rồi, càng hiểu Nước đau thương”.

Từ ngày 5 tháng 6 năm 1911 ấy, Người đã trải qua bao gian nan, cực khổ của các nghề “bồi” ở dưới tàu, “bồi” ở khách sạn, làm nghề rửa ảnh, vẽ sơn mài, làm nghề cào tuyết cho một trường học để sống, để đi, để hiểu và hoạt động cách mạng. Trong chuyến hành trình tìm đường cứu nước, Người đã đi khắp thế giới với nhiều khó khăn, vất vả, hiểm nguy nhưng ý chí, quyết tâm và lòng tin của Người về con đường giải phóng dân tộc luôn trước sau như một, chưa một phút giây thôi nghĩ về vận mệnh của đất nước, đời sống của đồng bào. Ý thơ đã cho ta thấy được tình yêu Tổ quốc luôn luôn cháy bỏng đến thiết tha trong tâm trí của Người:

Đời bồi tàu lênh đênh theo sóng bể
Người đi hỏi khắp bóng cờ châu Mỹ, châu Phi
Những đất tự do, những trời nô lệ
Những con đường cách mạng đang tìm đi
Đêm mơ Nước, ngày thấy hình của Nước
Cây cỏ trong chiêm bao xanh sắc biếc quê nhà
Ăn một miếng ngon cũng đắng lòng vì Tổ quốc
Chẳng yên lòng khi ngắm một nhành hoa

Sống giữa trời Âu phủ đầy tuyết trắng giá lạnh “một viên gạch hồng, Bác chống lại cả một mùa băng giá”, châu Mỹ, châu Phi xa xôi và nhiều lạ lẫm nhưng trong thẳm sâu tâm hồn Bác hình ảnh quê hương hiện lên với màu xanh của cỏ cây tươi tốt như màu xanh của hi vọng, mong ước về màu xanh của hòa bình dân tộc, sự yên bình, ấm no, tự do, hạnh phúc của đồng bào. Đọc câu thơ, ta bắt gặp một sự đối lập về hình ảnh, điều đó đã càng làm rõ hơn sự tinh tế đầy sâu lắng trong tâm hồn của Hồ Chủ tịch, đó là sự trăn trở, day dứt khôn nguôi đối với vận mệnh của đất nước. “Ăn một miếng ngon cũng đắng lòng vì Tổ quốc/Chẳng yên lòng khi ngắm một nhành hoa”. Trái tim giàu lòng yêu nước của Người như đang run lên, như đang nức nở, trong từng bữa ăn, giấc ngủ – Người cùng đau nỗi đau của dân tộc.

Xa Tổ quốc nhưng trái tim của Người luôn đập cùng nhịp đập trái tim của hàng triệu đồng bào. Đó là sức mạnh to lớn nhất giúp Người vượt qua mọi trùng dương, khó khăn để tiếp bước, tìm thấy ánh sáng chân lý soi rọi con đường đi đang đầy bùn đen tăm tối cho cả dân tộc. Khi đọc được Luận cương của Lê-nin, ngồi trong căn nhà số 9 ngõ Compoint, quận 17, ngoại ô Paris, Người đã bật khóc – khóc trong niềm hạnh phúc, khóc trong hi vọng về một ngày mai tươi sáng sẽ đến với dân tộc.

Luận cương đến với Bác Hồ. Và Người đã khóc
Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lênin.
Bốn bức tường im nghe Bác lật từng trang sách gấp
Tưởng bên ngoài, đất nước đợi mong tin

Niềm hạnh phúc như vỡ òa khi Người tiếp nhận Luận cương Lê-nin. Người tiếp nhận chân lý cách mạng ấy bằng tất cả trái tim, sự nhiệt huyết và khối óc của mình. Người tập trung lật giở từng trang sách và dường như cả đất trời cùng nín thở chờ đợi giây phút thiêng liêng, trọng đại này. Giây phút ló rạng ánh sáng của con đường giải phóng dân tộc, thời khắc lịch sử của một dân tộc đang trong cảnh lầm than, nô lệ hi vọng về ngày mai tươi sáng. Chân lý cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin đã soi sáng tâm hồn Người, đất trời và vạn vật xung quanh như bừng tỉnh, cùng hòa chung niềm hạnh phúc vô bờ:

Bác reo lên một mình như nói cùng dân tộc
“Cơm áo là đây! Hạnh phúc đây rồi!”
Hình của Đảng lồng trong hình của Nước
Phút khóc đầu tiên là phút Bác Hồ cười

Những câu thơ chứa đựng niềm hân hoan trào dâng đầy xúc động. Niềm vui náo nức của cả dân tộc trong giờ phút trọng đại hòa chung cùng tiếng reo mừng sung sướng của Người “Cơm áo là đây! Hạnh phúc đây rồi!”. Con đường đi của cả dân tộc sẽ còn vô vàn những khó khăn, hi sinh, gian khổ nhưng hình ảnh của Đảng lồng trong hình đất nước đã khẳng định niềm tin vô cùng sâu sắc và mãnh liệt đối với Đảng quang vinh, đối với linh hồn của dân tộc. “Phút khóc đầu tiên là phút Bác Hồ cười” – câu thơ giàu hình ảnh ấy đã làm người đọc xúc động xen lẫn vui mừng khi Người đã tìm ra con đường cứu nước, cứu dân. Và hơn cả là niềm hạnh phúc khi gặp những phác họa đầy tươi sáng về tương lai mới của đất nước:

Bác thấy:
Dân ta bưng bát cơm mồ hôi nước mắt
Ruộng theo trâu về lại với người cày
Mỏ thiếc, hầm than, rừng vàng, bể bạc
Không còn người bỏ xác bên đường ray

Giặc Nước đuổi xong rồi. Trời xanh thành tiếng hát
Điện theo trăng vào phòng ngủ công nhân
Những kẻ quê mùa đã thành trí thức
Tăm tối cần lao nay hóa những anh hùng

Nước Việt Nam nghìn năm Đinh Lý Trần Lê
Thành nước Việt nhân dân trong mát suối
Mái rạ nghìn năm hồng thay sắc ngói
Những đời thường cũng có bóng hoa che

Từ ngày 5 tháng 6 năm 1911, Bác rời xa Tổ quốc, quyết chí ra đi tìm đường cứu nước và Người đã tìm ra con đường giải phóng dân tộc. Sau bao năm bôn ba, nay Người trở về với quê hương, trở về với đồng bào. Mang trên vai sứ mệnh cao cả cùng với chân lý sáng ngời của chủ nghĩa Mác-Lênin, Người đã cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân quyết chí đồng lòng, trải qua nhiều chiến đấu, hi sinh, gian khổ đưa cả dân tộc thoát khỏi đêm dài nô lệ:

Luận cương của Lê-nin theo người về quê Việt
Biên giới còn xa. Nhưng Bác thấy đã đến rồi
Kìa, bóng Bác hôn lên hòn đất
Lắng nghe trong màu hồng, hình Đất nước phôi thai

Ngày Bác ra đi chỉ có hai bàn tay với chí lớn tìm ra con đường cứu nước. Mùa Xuân của 30 năm sau (tháng 2 năm 1941), vượt qua biết bao khó khăn, trở ngại tưởng chừng không thể vượt qua nổi, mong ước được trở về Nước cùng đồng bào đấu tranh của Bác Hồ đã trở thành hiện thực. Bước chân đầu tiên về đất Mẹ, là giây phút thiêng liêng khó diễn đạt bằng lời, Người như lặng đi bên cột mốc 108 biên giới Việt – Trung, mặt hướng về Tổ quốc, ngắm nhìn núi rừng trùng điệp Cao Bằng – mảnh đất địa đầu của Tổ quốc, rồi Người cúi xuống cầm nắm đất Tổ quốc lên hôn mà đôi mắt rưng rưng, tiếng lòng như thẳm sâu lắng đọng, cảm nhận sự sống của “hình Đất nước” đang phôi thai trong lòng mình, hình ảnh của một đất nước Việt Nam mới tươi sáng:

Kìa, bóng Bác hôn lên hòn đất
Lắng nghe trong màu hồng, hình Đất nước phôi thai

Những vần thơ xúc động nhưng giản dị đã cho ta cảm nhận thấy phong cách gần gũi, vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong suốt hành trình 30 năm tìm đường cứu Nước. Có thể nói “Người đi tìm hình của Nước” đã diễn đạt lòng yêu nước vô cùng sâu nặng của Bác Hồ, đồng thời để lại cho các thế hệ Việt Nam một trong những bài thơ hay nhất, thành công nhất viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đã 102 năm trôi qua kể từ ngày người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu Nước với một quyết tâm cháy bỏng: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”nhưng ý nghĩa lịch sử sâu sắc của sự kiện ngày 5/6/1911 vẫn luôn sáng mãi trong tâm thức của hàng triệu trái tim Việt Nam và bạn bè quốc tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh với trái tim yêu Nước nồng nàn đã đánh đổi tuổi trẻ, thanh xuân của mình để giành lấy mùa Xuân cho dân tộc, Người đã mở rộng cánh cửa để cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận của cách mạng thế giới, để cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam là một bộ phận đấu tranh của nhân loại tiến bộ vì hòa bình và những giá trị nhân đạo./.

Huyền Trang
bqllang.gov.vn

Theo chân Bác trên đất nước Hoa Hồng (tiếp theo)

(ĐCSVN)  – Trong ba ngày từ 13 đến 17 tháng 8 năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu Đoàn đại biểu Đảng và Nhà nước ta thăm chính thức Cộng hoà Nhân dân Bulgaria. Trong chuyến thăm ba ngày ngắn ngủi đó, hình ảnh của “một vị anh hùng huyền thoại của một dân tộc vĩ đại” (theo cách gọi của báo chí Bulgaria thời đó) qua nhiều thế hệ, vẫn còn in đậm nét trong ký ức của những người bạn Bulgaria trọng thị, mến khách.

Lễ đón Chủ tịch Hồ Chí Minh tại quảng trường Trung tâm Thủ đô Sophia.
(Ảnh chụp lại từ phông tư liệu của Bảo tàng Hồ Chí Minh).

Ông Phạm Quốc Bảo, nguyên Đại sứ nước ta tại Bulgaria cho biết, nếu theo dấu chân Bác chỉ thông qua những trang tư liệu thì chưa đủ. Và, ông kể cho chúng tôi nghe quá trình lần tìm những nhân chứng đã từng tham gia đón tiếp Người trong chuyến thăm lịch sử đó.

Tháng 8-2007, Đoàn cán bộ Ban Tuyên giáo Trung ương do GS, TS Phạm Mạnh Hùng, Phó Trưởng ban làm Trưởng đoàn đã cùng Đại sứ và nhóm biên soạn đến thăm lâu đài Vơrana, trước đây là Nhà khách Chính phủ, nơi Bác Hồ đã ở trong thời gian chuyến thăm lịch sử. Chủ nhân của lâu đài là cựu Hoàng Simeon Đệ nhị, nguyên Thủ tướng Bulgaria (2001-2005) đã đích thân dẫn đoàn đi thăm nơi ăn, chốn nghỉ của Bác trước đây và giới thiệu với khách về tòa lâu đài cổ kính này.

Các hoạt động kỷ niệm 50 năm chuyến thăm Bulgaria của Chủ tịch Hồ chí Minh diễn ra trên đất bạn đã được các cơ quan, đoàn thể ở trung ương và địa phương, các hãng thông tấn báo chí và nhân dân Bulgaria đánh giá cao và hưởng ứng nhiệt tình. Tới dự mít tinh và khai mạc triển lãm ảnh có nhiều vị lãnh đạo cấp cao như: Bộ trưởng Quốc phòng, Bộ trưởng Kinh tế và Năng lượng, Chủ tịch Cơ quan Nhà nước về Công nghệ thông tin và Truyền thông; Chủ nhiệm Ủy ban Nông – Lâm của Quốc hội, Chủ tịch Nhóm nghị sĩ Quốc hội hữu nghị với Việt Nam; Thứ trưởng Bộ Văn hóa; Chủ tịch Hội Hữu nghị Bulgaria – Việt Nam; các đại biểu Quốc hội, Đoàn Ngoại giao, cán bộ nhân viên Đại sứ quán, đông đảo bà con trong cộng đồng người Việt và bạn bè Bulgaria… Điều rất cảm động là các cựu chiến binh, các nhà hoạt động chính trị – xã hội lão thành, có nhiều tình cảm sâu sắc với Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tham gia đầy đủ trong các hoạt động nhân dịp kỷ niệm chuyến thăm Bulgaria của Bác.

Trước đó, nhằm bổ sung, hoàn thiện tư liệu cho việc biên soạn cuốn sách, Đại sứ và nhóm biên soạn đã tổ chức nhiều cuộc gặp gỡ với các nhân chứng. Ngày 8-5-2007, vợ chồng nghị sĩ Oleg Popov và con trai đến thăm Đại sứ quán nước ta tại Sôphia ta trước khi bà Evelina Popova sang Việt Nam công tác. Bà cho biết, trước đây cụ Popov (bố chồng bà) đã được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Nôvi Khan. Hồi đó cụ Popov còn là một thượng úy trẻ trong hàng ngũ an ninh nước bạn bảo vệ Bác Hồ. Sau này, cụ Popov được thăng quân hàm thiếu tướng an ninh và đã nghỉ hưu. Đại sứ rất xúc động khi nghe tin vui này và đã ngỏ ý mong muốn được đến thăm cụ. Không bao lâu sau, chiều ngày 11-5, ông Phạm Quốc Bảo về thăm làng Gabra. Mặc dù đã gần 80 tuổi, không quản đường xá xa xôi, cụ Popov đã lên tận làng Novi Khan, cách nhà 15 km để chỉ nơi Bác Hồ dừng chân và kể lại khi nghe tin Bác Hồ đi qua tuyến đường này, nhân dân đã đổ ra đường, đông chưa từng có trong lịch sử để chào đón Bác. Cụ nói rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị khách duy nhất được nhân dân Bulgaria đón tiếp nồng nhiệt đến như vậy. Cụ cũng không quên kể lại những giây phút xúc động khi được ôm Bác Hồ như thế nào, nửa thế kỷ đã qua mà cho tới tận bây giờ vẫn còn nhớ mãi không nguôi. Cụ đã tâm sự: “Tham gia bảo vệ Bác Hồ, tôi thấy có cái gì đấy rất khác. Người thật khiêm tốn, giản dị và cái đó đã tôn vinh Người trong mắt người dân Bulgaria và gây ấn tượng rất sâu sắc đối với tôi cho đến tận bây giờ”.

Ngày 17-8-2007, trong số khách đến dự mít tinh kỷ niệm 50 năm chuyến thăm Bulgaria của Chủ tịch Hồ Chí Minh có hai mẹ con cụ Vasilka Nikiphorova. Cụ tặng hoa Đại sứ và bày tỏ cảm tình đặc biệt với nhân dân Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tuy ở tuổi 93 nhưng cụ vẫn minh mẫn và rất tích cực tham gia các hoạt động của hội hữu nghị Bulgaria – Việt Nam. Ngày 29-8-2007, Đại sứ cùng nhóm biên soạn đến thăm gia đình cụ, thật cảm động khi được biết cả con gái và con rể của cụ nay đã ở tuổi 70 mà trước đây cũng đều được gặp Bác Hồ. Cụ được gặp Bác Hồ ở cuộc mít tinh, dự chiêu đãi và tặng hoa Bác cách đây nửa thế kỷ. Bà Maria Nikiphorova phụ trách nhóm thiếu nhi tặng hoa Bác Hồ ở sân bay Sophia, còn ông Andrey Evtimov Penchev được dự mít tinh chào mừng Bác ở quảng trường Đỏ, thành phố Plovdiv. Năm mươi năm đã trôi qua, nhưng hình ảnh về Bác Hồ vẫn còn in dấu ấn sâu đậm trong lòng người dân Bulgaria.

Theo dấu chân Bác Hồ, Đại sứ cùng nhóm giúp việc đã về làng Perustitsa (nay là một thị trấn) nằm ở phía tây dãy núi Rodopi ở cách Sophia 147 km về phía Đông Nam. Nhóm biên soạn đã vào tham quan hầm rượu vang mà cách đây 50 năm Bác Hồ đã đến thăm. Tại đây, hai bố con ông Giám đốc niềm nở đón tiếp và đã dành cho ông Phạm Quốc Bảo và nhóm biên soạn một bất ngờ lớn. Họ giới thiệu một cụ già người tầm thước, da dẻ hồng hào có mặt trong buổi tiếp là người được gặp Bác Hồ ở đây tháng 8-1957. Cụ Iordan Costadinov Toncov bồi hồi nhớ lại: “Cách đây 50 năm, khi đó tôi mới 25 tuổi đã vinh dự được bắt tay Bác Hồ”. Sau đó, cụ đã hướng dẫn các thành viên của đoàn công tác tham quan những nơi mà nửa thế kỷ trước Bác Hồ đã thăm như: hầm rượu vẫn còn nguyên, ngôi nhà nơi tiếp đón Bác, gia đình ông Petar Savov có người em đã anh dũng hy sinh trong chiến tranh chống phát xít để bảo vệ dân làng. Cụ Iordan Costadinov Toncov xúc động nói: ”Tôi vẫn còn nhớ mãi cái bắt tay nồng nhiệt với một bậc vĩ nhân. Dù chỉ trong giây lát ngắn ngủi, nhưng cũng đủ để bản thân tôi có cơ hội cảm nhận được lòng nhân ái của Người”.

Vào dịp kỷ niệm ngày sinh lần thứ 80 của cụ bà Angelina Ivanova Angelova (23-11-2007), nguyên Giám đốc Liên hiệp Nhà trẻ mang tên Hồ Chí Minh trong suốt 20 năm (1970-1990), đơn vị liên tục là lá cờ đầu trong toàn quốc và đã được nhà nước tặng thưởng Huân chương cao quý “Kiril và Metoy” hạng Nhất”. Tiếp xúc với Đại sứ, cụ Angelina Ivanova Angelova xúc động tâm sự: “Cho đến ngày nay, các lớp con cháu của chúng tôi vẫn mang trong mình niềm tự hào lớn lao là đã được dạy dỗ và lớn lên từ Liên hiệp Nhà trẻ “Hồ Chí Minh”.

Theo dấu chân Bác Hồ, nhóm biên soạn đã đi theo hành trình Bác đã đi qua, bồi hồi xúc động và niềm tự hào trào dâng khó tả. Từ các cơ quan trung ương đến chính quyền địa phương, từ thủ đô Sophia đến Perustitsa, những địa danh, thành phố, làng mạc, đường đèo, núi non, rừng cây, sông suối…, đến đâu cũng như vẫn còn in dấu chân Người, như những nhân chứng lịch sử đã chứng kiến một thời Bác đã đi qua, nay vẫn còn để lại những dấu ấn sâu đậm trong lòng người dân Bulgaria.

Những nhân chứng lịch sử đã nói lên rằng: Sự kính trọng, khâm phục và tình cảm quý báu đối với Bác Hồ vẫn còn là những dấu ấn sâu đậm trong lòng những người bạn Bulgaria, bất chấp cả những biến động lớn trong quan niệm về các giá trị tinh thần, tư tưởng và đạo đức trong quá trình chuyển đổi thể chế chính trị của đất nước.

Trải qua những bước thăng trầm của lịch sử, Di sản Hồ Chí Minh vẫn là cầu nối cho những ý niệm tốt đẹp của người Bulgaria đối với Việt Nam. Dấu ấn của Người để lại vẫn luôn nâng bước để chúng ta tiến lên trên con đường hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa các dân tộc.

(Viết theo lời kể của ông Phạm Quốc Bảo và tài liệu do nhóm biên soạn cuốn sách cung cấp)

Nguyễn Vũ Cân
dangcongsan.vn

Theo chân Bác trên đất nước Hoa Hồng

(ĐCSVN)  - Trong ba ngày từ 13 đến 17 tháng 8 năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu Đoàn đại biểu Đảng và Nhà nước ta thăm chính thức Cộng hoà Nhân dân Bulgaria. Trong chuyến thăm ba ngày ngắn ngủi đó, hình ảnh của một vị anh hùng huyền thoại của một dân tộc vĩ đại (theo cách gọi của báo chí Bulgaria thời đó) qua nhiều thế hệ, vẫn còn in đậm trong ký ức của những người bạn Bulgaria trọng thị, mến khách..

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chuyến thăm Bulgaria từ ngày 13 đến
ngày 17 tháng 8 năm 1957. (Ảnh chụp lại từ phông tư liệu của Bảo tàng Hồ Chí Minh)

Bác Hồ qua từng trang tư liệu

Tháng 6 năm 2010, tôi được ông Phạm Quốc Bảo, nguyên Đại sứ nước ta tại Bulgaria tặng cuốn sách “Hồ Chí Minh trên đất nước Hoa Hồng”. Cuốn sách này do Đại sứ quán nước ta tại Cộng hoà Bulgaria phối hợp với Bảo tàng Hồ Chí Minh biên soạn và được Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự Thật phát hành. Cuốn sách tập hợp những tư liệu quý về chuyến thăm lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Bulgaria từ ngày 13 đến ngày 17 tháng 8 năm 1957. Chuyến thăm được ghi vào trang vàng của lịch sử quan hệ giữa Việt Nam và Bulgaria.

Ông Phạm Quốc Bảo kể rằng, nhờ sự giúp đỡ tận tình của bạn bè và các cơ quan hữu quan Bulgaria và trong nước, Đại sứ quán nước ta đã sưu tầm được nhiều hình ảnh và tư liệu quý về hoạt động đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Bulgaria và Việt Nam.

Đầu năm 2007, nhờ có mối quan hệ thân tình với một số cán bộ lãnh đạo Bộ Ngoại giao Bulgaria, Đại sứ quán ta đã nhận được một tập hồ sơ tư liệu quý về chuyến thăm Bulgaria năm 1957 của Chủ tịch Hồ Chí Minh gồm 62 trang bằng tiếng Bulgaria và tiếng Pháp. Trong đó có nhiều tài liệu có giá trị như các bản ”tốc ký” ghi lại những lời phát biểu miệng của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại buổi gặp mặt với Đoàn Chủ tịch Quốc hội Bulgaria, biên bản các cuộc hội đàm giữa các nhà lãnh đạo hai nước, các chỉ thị và nghị quyết đặt tên Chủ tịch Hồ Chí Minh cho các đại lộ, nhà trẻ, nhà máy ở Bulgaria…

Tháng 5/2007, nhờ sự giúp đỡ của Quốc hội Bulgaria, Đại sứ quán nước ta đã nhận được hai tập bản sao báo “Sự nghiệp Công nhân” – Cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Bulgaria và báo “Mặt trận Tổ quốc” – Cơ quan ngôn luận của Đoàn Chủ tịch Quốc hội và Mặt trận Tổ quốc Bulgaria (từ ngày 13 đến ngày 19/8/1957) đang lưu giữ tại Quốc hội. Trong đó, các báo đăng tải các tin, bài, văn kiện, lời phát biểu của lãnh đạo hai nước… diễn tả đầy đủ toàn cảnh chuyến thăm của Bác qua hệ thống truyền thông Bulgaria. Dựa trên những tư liệu quý bước đầu sưu tầm được, trước hết nhóm biên soạn tiến hành cuộc hành trình ”Theo dấu chân Bác Hồ” trên tư liệu báo chí. Những tư liệu đó đã cho thấy, lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhân dân Bulgaria đã dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh sự đón tiếp hết sức nồng nhiệt, trọng thị, hữu nghị và thân thiết, thể hiện tình cảm chân thành với lòng kính trọng và tình yêu cao quý nhất của nhân dân Bulgaria anh em đối với nhân dân Việt Nam anh hùng. Báo chí Bulgaria mô tả nhân dân Bulgaria đón tiếp Chủ tịch Hồ Chí Minh như một vị anh hùng huyền thoại của một dân tộc vĩ đại. Đồng thời khắc họa trong tâm khảm của người dân Bulgaria hình ảnh của “Bác Hồ” khiêm tốn, giản dị, cởi mở, chân thành và giàu lòng nhân ái.

Vào một ngày cuối thu năm 2007, lãnh đạo Cơ quan Lưu trữ Quốc gia Bulgaria mời Đại sứ đến thăm. Cùng đi với Đại sứ còn có tiến sĩ Bạc Cầm Tiến, một nhà khoa học đang định cư tại Bulgaria. Sau này, Tiến sĩ Bạc Cầm Tiến được giao nhiệm vụ biên dịch những tài liệu tiếng Bulgaria sang tiếng Việt, phục vụ công tác biên soạn cuốn sách “Hồ Chí Minh trên đất nước Hoa Hồng”.  Ông Phạm Quốc Bảo nói rằng, đây là cơ hội để nhóm biên soạn tìm kiếm các tư liệu về Bác đang được lưu giữ ở Cục Lưu trữ Quốc gia Bulgaria. Ông nói: “Điều cuốn hút chúng tôi nhất là những album ảnh và những tập tài liệu đã ố vàng bởi thời gian, nhưng được bảo quản rất chu đáo, trong đó có gần 40 bức ảnh quý, những bút tích và chữ ký nguyên gốc của Bác”.

Khám phá đầu tiên và có ý nghĩa quan trọng nhất trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu này là mối quan hệ giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Bulgaria đã có từ rất lâu, trước khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức (tháng 2/1950). Điều này đã được Bác Hồ “tiết lộ” trong lời phát biểu khi đến thăm Đoàn Chủ tịch Quốc hội ngày 14/8/1957: ”Mối quan hệ giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Bulgaria đã có từ lâu rồi. Hôm nay tôi mới tiết lộ điều bí mật của mối quan hệ này”. Người kể về mối quan hệ thân thiết của mình với những người con ưu tú của dân tộc Bulgaria là Georgi Dimitrov và Vasil Kolarov khi người tham dự một hội nghị bí mật của Quốc tế Cộng sản trước khi đi vào hoạt động bí mật tại Trung Quốc.

Chính mối quan hệ mang ý nghĩa lịch sử sâu xa đó đã đặt nền móng xây dựng mối quan hệ hữu nghị truyền thống tốt đẹp giữa nhân dân hai nước Việt Nam – Bulgaria. Trải qua những bước thăng trầm của lịch sử, nhân dân hai nước không ngừng vun đắp cho mối quan hệ này ngày càng nở hoa kết trái.

Ông Phạm Quốc Bảo, nguyên Đại sứ nước ta tại Cộng hoà Bulgaria.

Theo ông Phạm Quốc Bảo, bước đầu tiên – như cách ông nói – theo chân Bác trên đất nước Hoa Hồng qua tư liệu báo chí cho thấy:

Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh là đóng vai trò to lớn trong việc phát triển quan hệ hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt Nam và Bulgaria, đồng thời góp phần củng cố sự đoàn kết trong phe xã hội chủ nghĩa thời đó vì sự nghiệp hoà bình, tiến bộ xã hội trên thế giới.

Một trong những mục đích quan trọng của chuyến thăm còn nhằm vào việc củng cố sự đoàn kết và thống nhất hành động giữa các nước xã hội chủ nghĩa chống chạy đua vũ trang và chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa đế quốc thời bấy giờ. Điều này đã được nêu rõ trong Tuyên bố chung của chuyến thăm.

Trong bài xã luận ngày 18/8/1957, Báo “Mặt trận Tổ quốc” Bulgaria gọi Đoàn đại biểu ta là ”Những vị sứ giả của tình hữu nghị và đoàn kết giữa các dân tộc”.

Phóng sự báo “Sự nghiệp Công nhân” đã ghi lại những chi tiết quý báu của hoạt động ngoại giao “Hồ Chí Minh” trong buổi đến thăm nông trang Pêruxtixa. Lúc đó, tại buổi họp mặt, khi nhận bình rượu vang từ tay đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Đảng Cộng sản Bulgaria, Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa chậm rãi đọc dòng khẩu hiệu trên tường bằng tiếng Bulgaria “Hãy củng cố sự thống nhất giữa những người cộng sản và nông dân!”, vừa rót rượu, mỉm cười mời Chủ tịch Đảng Liên minh Nông dân. Sự tinh tế, sâu sắc trong phong cách “ngoại giao nhân dân” Hồ Chí Minh đã được mọi người có mặt vỗ tay nhiệt liệt hưởng ứng. Như vậy, với một cử chỉ rất bình dị, thân tình trong một cuộc gặp gỡ ngắn ngủi, Người đã kịp chuyển đến các vị lãnh đạo của bạn thông điệp về tầm quan trọng và sức mạnh của sự đoàn kết và thống nhất…

Lãnh đạo Đảng và Nhà nước Bulgaria ủng hộ hoàn toàn đối với sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam. Lãnh đạo hai nước khẳng định sự cần thiết phải có những nỗ lực chung của tất cả các lực lượng yêu chuộng hòa bình, nhằm thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ, chấm dứt sự chia cắt đất nước, góp phần tích cực vào việc củng cố hòa bình ở khu vực và trên thế giới.

Sự đoàn kết gắn bó giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước dựa trên những nét tương đồng về hoàn cảnh lịch sử, lý tưởng cách mạng và lập trường kiên định trên các vấn đề quốc tế cùng quan tâm.

Sự kính trọng, khâm phục và đặc biệt là tình cảm nồng nhiệt, thân thiết và gần gũi mà nhân dân Bulgaria đã dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Những tình cảm đặc biệt mà nhân dân Bulgaria dành cho Bác xuất phát từ uy tín lớn lao và khả năng cảm hoá đặc biệt của Người. Ông Andey Evtimov Penchv – một nhân chứng lịch sử đã tâm sự: ”Một ấn tượng mạnh mẽ đọng lại trong tôi là chỉ qua một lần gặp mặt tại cuộc mít tinh ngắn ngủi mà Bác Hồ đã trở nên vô cùng gần gũi thân thiết với tất cả những người có mặt tại đây. Họ xem Người như một người thân. Chỉ trong khoảnh khắc Người đã chiếm được lòng tin của tất cả. Ai cũng muốn được tự mình góp phần ủng hộ đồng bào Việt Nam anh em. Sức mạnh vô hình từ Người đã lôi cuốn họ: tính khiêm tốn giản dị, niềm mong muốn vô tận được tiếp xúc với mọi người dân bình thường, khả năng diễn đạt nội dung phong phú bằng rất ít lời và yếu tố không kém phần quan trọng là phong thái trí thức, thanh cao trong mọi cử chỉ của Người…”.

Nguyễn Vũ Cân
dangcongsan.vn

Dấu chân Bác Hồ nơi Đảo quốc sương mù

Thủ đô Luân Đôn của Đảo quốc sương mù giờ đây không còn xa lạ với nhiều người dân Việt Nam trong kỷ nguyên hội nhập quốc tế. Đối với mỗi người Việt Nam, đến với Luân Đôn là đến với những ký ức về Bác Hồ, những câu chuyện về viên gạch sưởi ấm, về chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành với Vua bếp huyền thoại Escoffier mà ai ai cũng từng được nghe từ những ngày đầu cắp sách tới trường…

dau chan Bac Ho 1Tòa nhà New Zealand trên nền khách sạn Carlton, nơi Bác Hồ từng làm việc.

Hiện có nhiều thông tin khác nhau về các mốc thời gian Bác làm việc ở Anh. Tuy nhiên, giới nghiên cứu lịch sử cả Việt Nam và quốc tế có lẽ đồng quan điểm rằng thời gian Bác Hồ ở Luân Đôn là từ năm 1913 tới 1917. Nơi được nhắc đến nhiều nhất trong thời gian Bác ở Luân Đôn là khách sạn Carlton, địa điểm giờ đây là nơi tọa lạc của tòa nhà New Zealand và cũng là nơi làm việc của phái đoàn ngoại giao nước này.

Tòa nhà 19 tầng hiện đại nằm trên phố Haysmarket tấp nập, gần với Quảng trường Tralfagar có những chú sư tử đá biểu tượng của nước Anh, Cung điện của Nữ hoàng và các cơ quan đầu não của Chính phủ Anh, được xây dựng năm 1959 trên nền của khách sạn Carlton trước đây. Nơi đây hiện có tấm biển màu xanh do Hội Hữu nghị Anh – Việt và các bạn bè Anh yêu quý Việt Nam đặt từ những năm 1990 ghi: “Hồ Chí Minh (1890 – 1969) – Người khai sinh ra nước Việt Nam – đã làm việc tại khách sạn Carlton, tòa nhà cũ trên nền đất này, năm 1913”.

Ông Len Aldis, Chủ tịch Hội Hữu nghị Anh – Việt, một người bạn thân thiết của Việt Nam, kể rằng việc đặt được tấm biển trên tường của tòa nhà này không phải là dễ dàng. Dự án đặt tấm biển này cũng kéo dài mất 2 – 3 năm và cũng phải nhờ tới các chính trị gia có tiếng mới có thể trở thành hiện thực. Ông Len Aldis nói vui rằng, “vì là tấm biển tưởng niệm Hồ Chí Minh, một con người vĩ đại được cả thế giới biết đến, chứ nếu là… người khác chắc không được”.

Ông Len kể: “Khi mới tới Carlton, ông Hồ chỉ được giao nhiệm vụ dọn dẹp và rửa bát đĩa. Câu chuyện về việc ông Hồ cất những món ăn thừa để chuyển cho những người nghèo, người ăn xin ngoài đường mà thế hệ trẻ như bạn được nghe chính là bắt nguồn từ đây. Cảm kích trước hành động của ông Hồ, vị đầu bếp huyền thoại người Pháp Escosffier của khách sạn đã chuyển ông Hồ lên khu vực làm bánh và “truyền nghề” cho ông. Nhưng điều đó cũng không thể giữ ông Hồ ở lại xứ sương mù này bởi chất chứa trong ông là hoài bão giải phóng dân tộc…”.

dau chan Bac Ho 2Ông Lens Aldis (phải), Chủ tịch Hội Hữu nghị Anh – Việt, 
đã giúp dựng tấm biển tưởng niệm Hồ Chí Minh tại tòa nhà New Zealand.

Trái ngược với vẻ hiện đại, ngạo nghễ của tòa nhà 19 tầng trên mặt đất, tầng hầm của tòa nhà New Zealand vẫn giữ nguyên từ thuở nó còn là khách sạn Carlton. Qua hai lượt cầu thang đi xuống là khu phòng được cho là nơi nghỉ ngơi của các nhân viên làm việc tại khách sạn trước đây. Khu phòng này có độ cao chỉ hơn 2m một chút với lối đi khá hẹp, có lẽ chỉ đủ cho 2 người và mỗi phòng có diện tích chỉ khoảng 10m2. Hầu hết các phòng này giờ đây chuyển thành phòng chứa đồ cũ.

Nếu tới Luân Đôn vào mùa đông và nhìn những căn phòng bé nhỏ, lạnh lẽo, không có hệ thống lò sưởi này mới thực sự thấu hiểu được câu chuyện Bác phải dùng viên gạch nóng để sưởi ấm trong mùa đông băng tuyết. Như lời ông Len kể, thời Bác Hồ ở Luân Đôn, chỉ có những người giàu có, quý tộc mới được ở trong những căn nhà có lò sưởi chạy bằng khí đốt hoặc mới có điều kiện để dùng lò sưởi đốt gỗ. Luân Đôn ngày đó vắng vẻ, lạnh lẽo và hay mù sương chứ không giống như bây giờ…

Tiến sỹ John Callow, Giám đốc Thư viện Marx ở Luân Đôn, người nghiên cứu khá nhiều về Bác Hồ kể rằng, trong thời gian làm việc ở khách sạn Carlton, Bác Hồ làm việc từ 5 giờ sáng đến trưa và từ 5 giờ chiều đến 10 giờ tối. Nhờ đó, Bác có thời gian tìm hiểu về Luân Đôn và học tiếng Anh. “Ông Hồ tới đây làm việc không phải chỉ đơn giản là để kiếm tiền và sống mà để tìm hiểu bản chất của những dây xích ràng buộc dân tộc mình và các nước thuộc địa với các nước thực dân. Qua học hỏi, nghiên cứu, ông Hồ hiểu rằng chỉ có lòng dũng cảm thì chưa đủ để giải phóng dân tộc mình mà cần phải nghiên cứu đầy đủ về sự phát triển của chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc mới có thể phản kháng một cách hiệu quả…”, ông John Callow cho biết.

dau chan Bac Ho 3Phố Stephen, nơi Bác từng ở căn nhà số 8, giờ đã khác xưa.

Cũng theo Tiến sỹ John Callow, trong thời gian ở Luân Đôn, Bác từng làm các công việc nặng nhọc như cào tuyết ở trường học, điều khiển hệ thống nước nóng. Còn trong lĩnh vực “bếp núc” thì Bác còn từng làm việc ở khách sạn Drayton Court ở West Ealing, phía tây Luân Đôn, trước khi chuyển đến Carlton. Theo tư liệu ông có được thì Bác Hồ cũng từng ở một căn nhà ở số 8 phố Stephen, cắt phố Tottenham Court, cách khách sạn Carlton khoảng 30 phút đi bộ.

Phố Stephen ngày nay không còn căn nhà số 8 trước kia. Với chiều dài vỏn vẹn khoảng 500m, chặn 2 đầu là phố Tottemham Court và phố Gresse, phố Stephen hiện là nơi tọa lạc của hai tòa nhà, số 1 là khách sạn cao ngất ngưởng và đối diện là số 2 thuộc sở hữu của Viện Phim Anh (BFI). Mặt cắt của phố Stephen với Tottenham Court giờ là những tòa nhà cao tầng với các cửa hàng điện tử, thời trang san sát. Có lẽ những ngôi nhà cũ xưa kia đã bị tàn phá trong trận ném bom “The Blitz” của Đức những năm 1940 – 1941.

dau chan Bac Ho 4Khách sạn Drayton Court tại West Ealing, nơi Bác Hồ từng làm phụ bếp trước khi tới khách sạn Carlton.

Trong cuốn sách “Hồ Chí Minh – Những năm tháng chưa được biết đến” của NXB Đại học California, tác giả Sophie Quinn-Judge cho biết, Bác cũng đã từng gửi bưu thiếp cho cụ Phan Chu Trinh ở Pari (Pháp) từ địa chỉ ngôi nhà này. Ông John Callow kể rằng, do có mối liên hệ với phong trào công nhân Anh, với phong trào công nhân Việt Nam và là một nhà hoạt động công chúng nên Bác Hồ đã bị cảnh sát Anh chú ý. Căn nhà tại số 8 phố Stephen thường xuyên bị cảnh sát theo dõi, tuy nhiên khi lực lượng cảnh sát Anh đột nhập theo đề nghị bắt giữ Bác của cảnh sát Pháp thì Bác đã trốn khỏi đó và đến tháng 12/1917 thì Bác sang Pháp.

Khách sạn Drayton Court, tại số 2 phố The Avenue, nơi Bác làm việc một thời gian ngắn trước khi tới Carlton, cách trung tâm Luân Đôn khoảng 40 phút đi tàu điện ngầm. Khách sạn Drayton chính thức đi vào hoạt động năm 1894 với 60 phòng, tọa lạc ở khu khá vắng vẻ dân cư, khác hẳn so với khu trung tâm sầm uất, nhộn nhịp ở trung tâm Luân Đôn. Dù vẫn giữ nguyên hình dáng cũ nhưng bộ mặt của khách sạn ngày nay hào nhoáng hơn nhờ tu sửa và trang trí. Sau khi ngừng dịch vụ thuê phòng và chuyển thành quán rượu lớn nhất tại quận Ealing những năm 1940, Drayton Court giờ đây lại trở lại vai trò là một khách sạn với 27 phòng sang trọng và đầy đủ dịch vụ quán rượu và nhà hàng như xưa kia.

Dù tấm biển hiện nay ở tòa nhà New Zealand nói rằng Bác đã bắt đầu làm việc tại đó từ năm 1913 nhưng tư liệu lịch sử của quận Ealing cho rằng Bác đã làm việc ở khách sạn Drayton Court năm 1914. Tư liệu của quận Ealing giới thiệu về khách sạn Drayton Court viết: “Hồ Chí Minh, nhà lãnh đạo của Việt Nam, đã làm việc cần cù trong bếp ăn của khách sạn Drayton Court năm 1914, trước khi tiếp tục ra đi tìm đường thay đổi lịch sử đất nước ông, đánh đuổi các lực lượng đến từ Nhật Bản, Pháp và Mỹ”. Trong một tấm bưu thiếp gửi từ địa chỉ khách sạn này cho cụ Phan Chu Trinh ở Pari, Bác Hồ nói rằng mình đã tìm được nơi học tiếng: “Mấy bốn tháng rưỡi nay thì chỉ làm với Tây, nói tiếng Tây suốt”.

Những mốc thời gian cụ thể trong những tháng ngày Bác ở Luân Đôn có thể còn chưa thực sự rõ nhưng một điều rõ ràng không thể phủ nhận là thời gian Bác ở Thủ đô xứ sương mù đã được lịch sử thế giới ghi nhận với sự khâm phục về nghị lực và ý chí của một con người Việt Nam vĩ đại. Tại đây, Bác đã làm rất nhiều việc, từ cào tuyết cho tới rửa bát, phụ bếp để tồn tại và tìm hiểu về bản chất của chủ nghĩa tư bản, từ đó tìm ra con đường giải phóng dân tộc Việt Nam. Người ta nói rằng, đến nước Anh mà chưa đến thăm Di tích lịch sử Stonehenge thì chưa phải là đến nước Anh. Còn đối với những người dân Việt Nam, đến Luân Đôn mà chưa tới thăm lại những nơi Bác đã từng làm việc thì có lẽ chưa phải là đến Luân Đôn…

Theo baotintuc.vn
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Không gian lịch sử Việt Nam và khu vực khi Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước

QĐND – Thứ Hai, 16/05/2011, 16:53 (GMT+7)

QĐND – Ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành 21 tuổi nhận làm phụ bếp với lương tháng 45 phơ-răng (tiền Pháp) trên tàu A-mi-ran La-tút-sơ Trê-vin (Amiral Latouche Tréville) thuộc hãng vận tải Hợp nhất, rời Bến Nhà Rồng, Sài Gòn “đi ra nước ngoài xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”(1). Một vấn đề đặt ra là: Tại sao Nguyễn Tất Thành không thể tìm được con đường cứu nước ngay trên quê hương mình hoặc thậm chí ở các nước trong khu vực quanh ta, mà phải sang tận trời Tây? Trả lời thỏa đáng câu hỏi đó không phải là dễ dàng.

Trước hết chúng ta xem xét những gì đã diễn ra trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XX trên không gian hẹp là nước Việt Nam. Như chúng ta đều biết, sau khi dập tắt phong trào Cần Vương – cuộc vùng dậy cuối cùng theo ý thức hệ phong kiến nhằm khôi phục nền độc lập dân tộc, thực dân Pháp bắt tay khai thác thuộc địa nhằm bòn rút của cải nước ta làm giàu cho chính quốc. Cùng với việc nhập ngoại giống cây trồng mới, đặc biệt là cây công nghiệp dài ngày, nền nông nghiệp truyền thống của ta nhạt dần tính chất độc canh vốn có của nó, nhiều trung tâm công thương nghiệp và các loại hình giao thông vận tải hiện đại… xuất hiện. Xã hội truyền thống Việt Nam bắt đầu có sự chuyển biến, khởi đầu từ địa hạt kinh tế, sau lan sang các lĩnh vực khác. Dường như cùng một lúc với những chuyển biến bên trong, từ bên ngoài, luồng tư tưởng dân chủ tư sản, theo những con đường khác nhau, đã chảy vào Việt Nam. Từ Trung Quốc, Nhật Bản, Tân văn, Tân thư được truyền vào Việt Nam, tạo nên những ảnh hưởng tư tưởng to lớn. Sau cùng tư tưởng dân chủ tư sản đến từ nước Pháp, quê hương của cuộc cách mạng tư sản điển hình. Trong guồng máy thống trị không chỉ có những tên thực dân tàn bạo, mà còn có cả những người Pháp chân chính, yêu tự do, đó là đội ngũ những thầy giáo, cô giáo, những nhà khoa học Pháp. Tư tưởng dân chủ tư sản được họ gieo vào đầu óc đám học trò đang ngồi trên nghế nhà trường Pháp-Việt, những người đồng nghiệp Việt Nam cùng làm việc với họ trong các cơ quan nghiên cứu khoa học, các công sở.

Nhà Rồng – nơi Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước. Ảnh: Tuấn Tú

Bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX, tại Pháp, hằng năm đều có tổ chức những Hội chợ thuộc địa để quảng bá vẻ đẹp quyến rũ, nguồn tài nguyên phong phú của các xứ thuộc địa nhằm thu hút vốn đầu tư của tư bản Pháp. Các gian hàng Việt Nam được giới thiệu ở các hội chợ đó. Nhân đó, nhiều người Việt có dịp sang Pháp làm việc như Bạch Thái Bưởi, Nguyễn Văn Vĩnh… đồng thời các phái đoàn sang Pháp “khảo sát chính trị” cũng được tổ chức. Các đoàn này thường được tuyển chọn trong đám quan lại cấp tỉnh và học sinh Trường Hậu bổ. Tháng 2-1906, đoàn khảo sát chính trị của Bắc Kỳ gồm 10 người, trong đó có Tri phủ Hoài Đức là Trần Tán Bình, sang Pháp. Năm sau, một đoàn khảo sát chính trị khác gồm 17 người (10 người Bắc Kỳ, 7 người Trung Kỳ, đáp tàu Himalaia sang Pháp). Đến Pháp, họ được đưa đi thăm nhiều nơi, nhưng chủ yếu tập trung khảo sát hai lĩnh vực quan trọng là kinh tế và giáo dục. Trở về nước, họ trở thành những người tuyên truyền cho nền văn minh Pháp.

Trong khi tư tưởng dân chủ tư sản tràn vào Việt Nam nhằm chuẩn bị về tư tưởng cho sự chuyển đổi hệ ý thức thì trong xã hội chúng ta lúc đó chưa hội đủ những điều kiện cần thiết nhất cho phong trào cách mạng theo khuynh hướng tư tưởng mới. Lúc đó, xã hội Việt Nam chưa xuất hiện một giai cấp tư sản làm bệ đỡ cho nó và lớp trí thức tân học đang ngồi trên ghế nhà trường, do vậy, lớp nhà nho yêu nước, thức thời đứng ra lãnh trách nhiệm tiếp nhận tư tưởng mới, đưa nó vào cuộc sống và biến nó thành phong trào cách mạng sôi nổi trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XX. Dẫu vậy, sự vận động tư tưởng ở Việt Nam bằng phong trào Duy Tân đã bắt đúng nhịp đi và hòa cùng trào lưu “châu Á thức tỉnh” thời đó.

Phong trào Duy Tân ở nước ta đầu thế kỷ trước được phân thành hai nhánh: Ám xã và Minh xã. Ám xã (tổ chức bí mật) do Phan Bội Châu lãnh đạo, chủ trương sử dụng bạo lực, còn Minh xã (tổ chức công khai) do Phan Châu Trinh lãnh đạo, chủ trương tự cường bằng những hoạt động kinh tế, văn hóa – giáo dục. Điều đặc biệt lý thú là phong trào Duy Tân đầu thế kỷ do hai nho sĩ nổi tiếng lãnh đạo đã có sự phối hợp, liên kết bên trong với bên ngoài, giữa các lĩnh vực và giữa các vùng miền của đất nước, tạo thành một phong trào cách mạng có quy mô toàn quốc. Nhưng rồi, phong trào đó cũng bị bọn thực dân và tay sai dập tắt. Năm 1909, sau một thời gian hòa hoãn dài, thực dân Pháp và tay sai huy động một lực lượng quân sự lớn tiến công vào Yên Thế. Khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo đang đi dần tới những năm tháng tồn tại cuối cùng.

Tiếp đến, trên không gian lịch sử rộng hơn – không gian lịch sử các nước trong khu vực, đặc biệt các nước cùng cảnh ngộ như nước ta.

Nước Trung Hoa rộng lớn, văn hiến lâu đời, bị các nước tư bản phương Tây xâu xé cũng đang tìm lối ra. Tư tưởng dân chủ tư sản từ nhiều ngả đường khác nhau được truyền vào Trung Quốc và được lớp nho sĩ tiến bộ như: Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Đàm Tự Đồng, Dương Thâm Tú… tiếp nhận, dấy lên phong trào Duy Tân, rồi được ông vua trẻ Quang Tự đồng tình tiến hành cuộc chính biến Mậu Tuất 1898. Cuộc chính biến diễn ra được một trăm ngày thì bị phái bảo thủ trong triều đình Mãn Thanh do Tây Thái hậu cầm đầu phản công và dập tắt. Ngày 21-9-1898, Tây Thái hậu truất ngôi và bỏ ngục Vua Quang Tự, truy nã Khang, Lương và kết án tử hình Đàm Tự Đồng và Dương Thâm Tú, giải tán các học đường, học hội… Phong trào Duy Tân cuối thế kỷ XIX thất bại. Những người đang sống sót chạy ra nước ngoài cư trú chính trị, tiếp tục viết trước tác truyền về đại lục, tiếp tục nhen nhóm ngọn lửa cho những cuộc vùng dậy tiếp theo. Cho đến tháng 6-1911, Trung Quốc vẫn chưa tìm thấy lối thoát mà phải đến tháng 10-1911, Trung Quốc đã tìm thấy hướng đi bằng cuộc cách mạng Tân Hợi do Tôn Dật Tiên lãnh đạo.

Trên đất nước Ấn Độ bị thực dân Anh đô hộ, những nhà ái quốc Ấn Độ cũng đang tìm hướng giải thoát cho dân tộc mình. Tháng 12-1885, Đảng Quốc dân Đại hội (Đảng Quốc Đại), đại diện cho lợi ích của giai cấp tư sản dân tộc Ấn Độ, được thành lập, chính thức bước lên vũ đài chính trị. Mặc dù, Đảng chủ trương đấu tranh ôn hòa nhưng có vị trí đáng kể trong cuộc đấu tranh chống thực dân Anh như đòi cải cách về giáo dục, xã hội và mở rộng sự tham gia của người Ấn trong các Hội đồng tự trị… Ngày 16-10-1905, ngày đạo luật chia cắt Bengan có hiệu lực, nhân dân Ấn Độ coi đây là ngày quốc tang, đã dấy lên phong trào chống Anh mạnh mẽ, đặc biệt ở Bombay và Cancúta. Cuộc đấu tranh đó đã buộc thực dân Anh phải thu hồi đạo luật chia cắt Bengan, nhưng sau đó cũng không phát triển được.

Ở khu vực Đông Nam Á, phong trào giải phóng dân tộc cũng đang diễn ra rộng khắp, sôi nổi, liên tục.

Ở In-đô-nê-xi-a, nơi bị thực dân Hà Lan đô hộ, nhiều tổ chức yêu nước của trí thức tư sản tiến bộ ra đời, thu hút đông đảo nhân dân tham gia. Từ năm 1905, nhiều tổ chức công nhân được thành lập và bước đầu truyền bá chủ nghĩa Mác. Cũng trong năm đó, tổ chức nghiệp đoàn đầu tiên của công nhân xe lửa được thành lập, kích thích sự ra đời của các nghiệp đoàn khác, từ đó, dẫn đến thành lập Hội liên hiệp Công nhân In-đô-nê-xi-a vào năm 1908.

Ở Lào, đầu thế kỷ XX, nhân dân các bộ tộc Lào đã nhiều lần nổi dậy chống thực dân Pháp. Năm 1901, nhân dân Xa-van-na-khệt, dưới sự lãnh đạo của Phacađuốc, đứng dậy đấu tranh. Và trong năm đó, một cuộc khởi nghĩa khác bùng nổ trên cao nguyên Bô-lô-ven cho đến năm 1907 mới bị dập tắt. Ở Miến Điện, cuộc kháng chiến chống thực dân Anh diễn ra anh dũng, nhưng cuối cùng bị đàn áp. Nghĩa quân phải rút vào rừng sâu hoạt động đợi thời cơ. Điểm qua tình hình Việt Nam và các nước trong khu vực như vậy để đi tới kết luận rằng, cả “châu Á đau thương”, trừ Nhật Bản và Xiêm, phong trào giải phóng dân tộc theo nhiều khuynh hướng tư tưởng khác nhau diễn ra sôi nổi, liên tục, nhưng cuối cùng bị các thế lực thực dân và tay sai đàn áp và dìm trong máu. Khủng hoảng đường lối cứu nước không chỉ diễn ra ở Việt Nam, mà còn trong cả khu vực.

Ở Việt Nam, các bậc anh hùng nghĩa liệt thừa lòng yêu nước và lòng quả cảm, nhưng trước sau đều phải nhận lấy thất bại xót xa. Có nhiều nhân tố trong tình hình kinh tế-xã hội, chính trị-tư tưởng của đất nước lúc bấy giờ đã tạo nên những nghịch lý đó. Cuộc sống đang chứa đựng nghịch lý thì chính cuộc sống đang tạo ra những điều kiện vật chất để giải nghịch lý đó. Sự thất bại của các phong trào chống thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX vừa chứng tỏ sự lỗi thời của hệ tư tưởng phong kiến, sự yếu ớt và bất lực của hệ tư tưởng tư sản, vừa từng bước chuẩn bị tiền đề cho một phương hướng cứu nước mới. Trong đội ngũ những nhà yêu nước đang hăm hở tìm đường cứu nước có một thanh niên trẻ tuổi mà buổi đầu xuất hiện đã vượt xa những nhà yêu nước đương thời về sự mẫn cảm của trí tuệ, về tầm nhìn. Đó là Nguyễn Tất Thành, người đã tự nguyện gánh lấy trách nhiệm ra đi tìm phương hướng cứu nước mới.

PGS.TS Phạm Xanh
qdnd.vn

————————

1. Trần Dân Tiên. Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch. NXB Chính trị Quốc gia và NXB Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr., 12.

Hồ Chí Minh: sự “vượt thoát” đế đi tìm giá trị mới

Xuất thân trong một gia đình Nho học giàu truyền thống yêu nước, từ lúc thiếu thời đến tuổi trưởng thành, Hồ Chí Minh đã nhận được sự giáo dục theo đạo Thánh hiền và được nuôi dưỡng bằng truyền thống nhân ái của dân tộc. Quá trình tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh là một quá trình vận động biện chứng từ một người yêu nước trở thành một người cộng sản chân chính.

“Cốt cách phong kiến” không thể đánh đuổi thực dân

Lớn lên trong thời kỳ đất nước bị chìm đắm trong vòng nô lệ, Người đã được chứng kiến nhiều cuộc khởi nghĩa, nhiều phong trào yêu nước của các nhà chí sĩ bị thực dân Pháp dập tắt như cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng hay các phong trào Đông Du, Duy Tân của Phan Bội Châu, Phan Chu Chinh. Sự đàn áp của thực dân Pháp khiến cách mạng nước ta lâm vào tình trạng khủng hoảng, thiếu hẳn một con đường cách mạng phù hợp với tình hình mới. Một đòi hỏi tất yếu là phải tìm ra con đường giải phóng cho dân tộc. Hồ Chí Minh khâm phục tinh thần yêu nước của Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh,… nhưng không tán thành con đường cứu nước của họ.

Xuất phát từ thực tiễn đất nước trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể, Hồ Chí Minh đã vượt thoát khỏi tín điều Nho giáo, phê phán các phong trào yêu nước mang nặng cốt cách phong kiến. Người cho rằng, các cuộc khởi nghĩa mang “cốt cách phong kiến” lỗi thời không thể có được sức mạnh thực hiện nhiệm vụ đánh đuổi thực dân, giành lại độc lập cho dân tộc trong điều kiện, hoàn cảnh mới. Bên cạnh đó, mặc dù sớm tiếp xúc với Tân văn, Tân thư của các nhà cách mạng Trung Quốc, chứng kiến các phong trào yêu nước trên lập trường dân chủ tư sản và cũng đồng thời chứng kiến sự thất bại của các phong trào này, Hồ Chí Minh nhận ra một điều rằng lập trường dân chủ tư sản ở một nước thuộc địa nửa phong kiến ở Việt Nam chưa đủ sức tập hợp được lực lượng để chống lại chủ nghĩa thực dân, chưa đủ sức chống lại được sự đàn áp của thực dân Pháp.

Đi để “xem xét họ làm ăn ra sao”

Chính vì vậy, để tìm ra con đường cứu nước, không còn con đường nào khác là phải ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác như thế nào, để trở về giúp đồng bào mình. Do đó, Người đã quyết định ra đi tìm đường cứu nước. Năm 1923 Người đã trả lời một nhà báo Nga rằng: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp Tự do, Bình đẳng, Bác ái… Tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những chữ ấy”[1]. Một lần khác trả lời một nhà văn Mỹ, Người nói: “Nhân dân Việt Nam trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”[2].

dTrên chiếc tàu Đô đốc Latútsơ Tơrêvin  này, năm 1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc đi tìm đường cứu nước. (Ảnh tư liệu).

Đi nhiều nơi, đến nhiều nước trên thế giới, Hồ Chí Minh đã học hỏi được rất nhiều điều mà trong nước không thể có. Những khái niệm, những giá trị mới, tiến bộ như: tự do, bình đẳng, bác ái, nhân quyền, dân quyền, pháp quyền, dân chủ, xã hội chủ nghĩa… đã ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng Hồ Chí Minh. Những giá trị mới như Độc lập, Tự do… là những giá trị, theo Người, không thể tìm thấy trong các chế độ phong kiến chuyên chế, ở các nước thuộc địa.

Có thể nói, mặc dù được nuôi dưỡng bằng truyền thống yêu nước nhưng Hồ Chí Minh, bằng bản lĩnh của mình, đã vượt lên trên truyền thống mà nhiều nội dung không còn phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể để tìm con đường cứu nước mới.

Ngày 5-6-1911, trên con tàu Đô đốc Latútsơ Tơrêvin, từ bến cảng Sài Gòn, thành phố Sài Gòn, Hồ Chí Minh rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước. Tìm hiểu những cuộc cách mạng nổi tiếng thế giới là cách mạng Mỹ (năm 1776), cách mạng tư sản Pháp (năm 1789), đặc biệt là phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa chống chủ nghĩa thực dân, Người rất khâm phục tinh thần cách mạng ở những nước này, nhưng không thể đi theo con đường đó được. Bởi vì, như Người đã nói: “Kách mệnh Mỹ cũng như kách mệnh Pháp là kách mệnh tư bản, kách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực thì nó tước đoạt công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”[3].

Không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản

Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế phát triển mạnh mẽ. Đầu năm 1919, V.I.Lênin và những người theo chủ nghĩa Mác ủng hộ lập trường của Lênin họp đại hội ở Mátxcơva, thành lập Quốc tế III – tức Quốc tế Cộng sản. Quốc tế Cộng sản đã kiên quyết ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc ở các nước phương Đông. Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin được Đại hội lần thứ hai Quốc tế Cộng sản họp năm 1920 thông qua, đã vạch ra đường lối cơ bản cho phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và phụ thuộc.

dNguyễn Ái Quốc tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp tháng 12/1920.

Báo Nhân đạo, ngày 16 và 17-7-1920 đã đăng Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin. Tên đầu bài có liên quan đến vấn đề thuộc địa lập tức thu hút sự chú ý của Người. Trong văn kiện này, V.I.Lênin phê phán luận điểm sai lầm của những người đứng đầu Quốc tế II về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, lên án mạnh mẽ tư tưởng sô vanh, tư tưởng dân tộc hẹp hòi, ích kỷ, đồng thời nhấn mạnh nhiệm vụ của các đảng cộng sản là phải giúp đỡ thật sự phong trào cách mạng của các nước thuộc địa và phụ thuộc, về sự đoàn kết giữa giai cấp vô sản các nước tư bản với quần chúng cần lao của tất cả các dân tộc để chống kẻ thù chung. Đặc biệt, trong bản Luận cương, V.I.Lênin đã đề cập đến quyền bình đẳng giữa các dân tộc dựa trên lợi ích thiết thực về kinh tế, chính trị…

Trong tác phẩm Đường kách mệnh, Hồ Chí Minh khẳng định: trong thế giới bây giờ chỉ có kách mệnh Nga là thành công và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng hạnh phúc, tự do bình đẳng thật sự. Kách mệnh Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ, rồi lại ra sức cho công nông các nước và các dân tộc bị áp bức, các thuộc địa làm kách mệnh để lật đổ tất cả đế quốc và tư bản chủ nghĩa trên thế giới. Áp dụng cho cách mạng Việt Nam, Người vạch ra chân lý muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản.

Trên hành trình tìm đường cứu nước, qua những trải nghiệm lao động, học tập, đấu tranh của bản thân và thực tiễn cách mạng thế giới, với tâm và tầm của một nhà cách mạng kiệt xuất, Hồ Chí Minh đã đến với của chủ nghĩa Mác – Lênin – tìm thấy con đường duy nhất có thể thực hiện được mục tiêu cứu dân cứu nước của mình.

Động lực mạnh mẽ nhất: lòng yêu nước, thương dân

Trong suốt hành trình tìm đường cứu nước, động lực mạnh mẽ thôi thúc Hồ Chí Minh chính là lòng yêu nước, vì dân. Khi đến với Luận cương của V.I.Lênin, đến với Quốc tế III, Người thấy rằng đó chính là con đường duy nhất có thể giúp dân tộc mình có được độc lập, dân mình có được tự do. Người viết: “chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”[4]. Theo Người, chủ nghĩa dân tộc gắn với tôn quân (quân quyền) phải được thay thế bởi chủ nghĩa dân tộc gắn với dân quyền. Người xác định cần phải phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ. Người nói: “…người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên động lực vĩ đại, và duy nhất của đời sống xã hội của họ”[5].

Con đường cứu nước của Hồ Chí Minh thể hiện sự phát triển tư tưởng từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa cộng sản. Người đã tổng kết quá trình tìm đường cứu nước của mình như sau: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác – Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”[6]. Từ chủ nghĩa yêu nước, Hồ Chí Minh đã đến với con đường cách mạng vô sản, đến với chủ nghĩa Mác – Lênin và cách mạng tháng Mười. Có thể nói, sự vượt thoát truyền thống để đến với những giá trị mới của thời đại trên cơ sở chủ nghĩa yêu nước đã giúp Hồ Chí Minh tìm ra con đường cứu nước, cứu dân, đó là con đường kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, kết hợp tinh thần yêu nước với tinh thần quốc tế vô sản.

Ngày nay, để thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, chúng ta cần phải quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về động lực hành động dựa trên chủ nghĩa yêu nước, thực hiện mong ước của Người: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp Cách mạng Thế giới”.

(Thiếu tá, ThS Nguyễn Giáo (Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự) – BĐT ĐCSVN)
* Tên bài và tít phụ do Bee.net.vn đặt

bee.net.vn

——————

[1] Báo Ogoniok, số 39, ngày 23-12-1923.
[2] Báo Nhân dân, ngày 18-5-1965.
[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, tr.268.
[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 2000, tập 1, tr.466.
[5] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 2000, tập 1, tr.467.
[6] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1996, Tập 10, tr. 128.

Hồ Chí Minh và những ngày đi tìm đường cứu nước

Ở bến Nhà Rồng – TP Hồ Chí Minh có một khu di tích quy tập những hình ảnh về cuộc đời và hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cũng dễ hiểu, bởi từ nơi đây, ngày 5/6/1911, một người thanh niên yêu nước Việt Nam có tên là Nguyễn Tất Thành đã quyết định ra đi tìm đường cứu nước.

Nhà Rồng (nơi Bác Hồ đã ra đi tìm đường cứu nước). Ảnh: Phạm Lợi.

Mang tên mới: Văn Ba, anh xin được chân người phụ bếp trên một chiếc tàu biển của Pháp Latusơ Tơrêvin. Từ đây, hoà mình trong đời sống của thợ thuyền, người thanh niên Văn Ba bắt đầu cuộc hành trình tìm đường cứu nước thoát khỏi ách nô lệ của chế độ thực dân.

Cuộc hành trình 30 năm ròng, đi qua 28 quốc gia, làm nên sự nghiệp lớn, xuất phát từ một anh phụ bếp Văn Ba trên một chiếc tàu vận tải hàng hải. Tuy lao động vất vả suốt ngày, suốt tháng không có ngày nghỉ, ông chủ chỉ trả cho anh mỗi tháng không quá 50 phrăng, là thứ tiền công rẻ mạt nhất cho một lao động, nhưng anh không nản lòng, chê trách. Mà trái lại, với thái độ cởi mở, lễ phép với mọi người; từ người lao động đến những du khách thượng hạng đi trên tàu, ai cũng quý mến anh, sẵn sàng giúp đỡ mỗi lần anh muốn biết về một điều gì đó. Xong việc, anh tranh thủ học thêm hoặc đọc sách hay tự học ngoại ngữ. Tàu cập bến một số nước, anh Ba lên bờ, không phải như những người khác, bao nhiêu tiền dồn vđo việc ăn chơi phung phí; anh dành thời gian đi sâu tìm hiểu hiện trạng thực tế xã hội. Anh chợt nhận ra rằng, mỗi quốc gia mỗi vẻ khác nhau về phong cảnh và con người; nhưng về xã hội thì đâu đâu cũng có người nghèo, người giàu, đâu cũng có các tệ nạn xã hội, đâu cũng có người tốt và kẻ xấu.

Anh tiêu tiền hợp lý, chỉ sử dụng tiền khi cần thiết, còn dành một ít tiền gửi về cho người cha ở nhà đang còn gặp nhiều khó khăn. Trên đất Pháp, anh viết thư gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp xin vào học Trường Thuộc địa. Đây không chỉ là trường đào tạo học sinh sau này phục vụ chính sách cai trị của Pháp mà còn đào tạo một số nghề chuyên môn như điện báo, kế toán, xưởng trưởng… Anh ký tên Nguyễn Tất Thành, trong thư anh ghi: “ý muốn trở thành có ích cho đồng bào tôi, muốn cho họ được hưởng những lợi ích của học thức”. Song lời yêu cầu thiết tha đó không được chấp nhận. Một lần nữa, anh lại xuống tàu tiếp tục cuộc hành trình qua những châu lục khác.

Trên chiếc tàu biển của hãng Sácgiơ Rêminy nước Pháp, Nguyễn Tất Thành bắt đầu chuyến hành trình qua các nước bên bờ biển châu Phi. Khi tàu cập bến, anh thường tranh thủ thời gian rỗi lên thăm thành phố cảng, dạo ngắm phong cảnh châu Phi và tìm hiểu đời sống kinh tế, xã hội của lục địa đen này. Anh đã được chứng kiến nhiều cảnh đau xót. Thân phận của nô lệ da đen thật kinh khủng. Họ là người mà không được sống cuộc sống của con người. Họ bị hành hạ cả thể xác lẫn tinh thần, họ là thứ hàng hoá trao đổi mua bán giữa các ông chủ buôn người công khai được pháp luật thừa nhận. Bọn chủ xem tính mạng những người nô lệ da đen là thứ trò chơi tiêu khiển, là những đồ dùng khi cần thì sử dụng, khi không cần thì vứt đi không tiếc. Trước những cảnh đời đau xót đó, Nguyễn Tất Thành đã có lúc xúc động và khóc. Người đau nỗi đau chung của nhân loại cho thân phận người nô lệ, cho số phận của người dân Việt Nam bị áp bức, bị mất quyền tự do của con người.

Tàu Đô Đốc Latútsơ Tơrêvin, nơi Nguyễn Tất Thành làm phụ bếp khi rời Tổ quốc đi tìm đường cứu nước.

Rời châu Phi, để lại nỗi buồn của những cảnh đời, những băn khoăn suy tư về một câu hỏi lớn: Làm thế nào để trên thế giới bớt đi sự bất công? Từ châu Phi, anh đến châu Mỹ, đi qua Mactinich, Urugoay, Achentina, rồi lần đầu tiên đặt chân lên nước Mỹ, nơi anh thường được nghe về một tuyên ngôn độc lập nổi tiếng cả thế giới. Người muốn dừng chân trên đất Mỹ một thời gian để tìm hiểu bản chất của sự độc lập kiểu Mỹ như thế nào.

Thời gian đầu Nguyễn Tất Thành đến nhận một công việc làm bánh tại một gian bếp của khách sạn Omni Parker House ở thành phố Boston. Tại đây, anh thường lui tới khu vực Háclem, nơi ở của người nghèo, chủ yếu là người da đen. Anh làm quen với các phong trào đấu tranh với giới chủ, từ những cuộc quyên góp tiền gửi về giúp đỡ quê hương châu Phi. Có lần khi trả lời nhà báo A.Luy Xtơrông, Bác Hồ nhớ lại thời kỳ này: “Khi ấy tôi chưa hiểu lắm về chính trị, nhưng tôi cảm thấy họ đều là những người nghèo khổ đang mong muốn được tự do. Họ có bao nhiêu tiền cũng bỏ ra trong lúc quyên góp, thế là tôi dốc cả tiền túi của mình ra góp vào đấy”.

Cuối năm 1913, Nguyễn Tất Thành rời nước Mỹ sang nước Anh. Thời kỳ đầu gặp nhiều khó khăn về kinh tế nên phải tạm xin việc quét tuyết cho một trường học, rồi chuyển sang làm nghề đốt lò. Tiền thu chẳng được bao nhiêu vừa đủ tiền thuê nhà, tiền học thêm tiếng Anh, còn lại chỉ đủ những bữa ăn thanh đạm. Sau đó nhờ có người giới thiệu, anh chuyển đến làm thuê ở khách sạn Cáclơtơn. ở đây có ông vua đầu bếp nổi tiếng Excôpphiê người Pháp. Anh Thành nhận việc rửa bát đĩa, xoong nồi, lao động chăm chỉ, tính tình cởi mở, đặc biệt rất có ý thức trong công việc. Mỗi lần phục vụ bữa tiệc lớn của những người giàu có, thức ăn thừa nhiều, anh Thành không vứt những thức ăn còn có thể dùng được, mà gói lại mang ra đường cho những người nghèo.

Việc làm đó được ông Excôpphiê rất chú ý. Là người có tư tưởng tiến bộ nên ông rất quý anh và ông đã giúp anh cách làm bánh – một bí quyết nghề nghiệp. Có công việc mới, anh Thành vừa đỡ vất vả lại có thời gian để học thêm tiếng Anh. Lúc này ở nước Anh đã hình thành một tổ chức gồm những người châu á, có tư tưởng tiến bộ, gọi là “Hội những người lao động hải ngoại”. Anh Thành trở thành hội viên của Hội vì Hội này ủng hộ cuộc đấu tranh của các dân tộc thuộc địa, trong đó có dân tộc Việt Nam.

Thời kỳ ở nước Anh, ngoài điều kiện thuận lợi cho anh học tiếng, điều kiện xã hội và chính trị đương thời còn giúp anh hiểu biết nhiều về chế độ chính trị của xã hội tư bản, về đấu tranh giai cấp giữa công nhân và tư sản… Tuy điều kiện rất tốt song có điều những thông tin về quê hương quá ít, ở nước Pháp – nước đang trực tiếp đô hộ dân tộc mình – sẽ có nhiều thông tin về quê hương. Hơn nữa nhờ liên lạc được với cụ Phan Chu Trinh và một số người Việt Nam đang ở Paris, Nguyễn Tất Thành càng hiểu hơn điều kiện thuận lợi khi mình có mặt ở Paris, do đó anh quyết định trở lại nước Pháp.

Thời kỳ này cụ Phan Chu Trinh đang ở Pháp cũng rơi vào hoàn cảnh khó khăn chung. Cụ phải làm nghề ảnh để có thu nhập sinh sống. Thời kỳ mới đến Paris, nhờ sự quen biết trước nên cụ Phan đã giúp anh Thành làm nghề thợ ảnh. Để giảm bớt khó khăn chung, cụ Phan cùng đến ở nhà của Phan Văn Trường tại số 6 Vila đờ Gôbơlanh, quận 13 Paris. Dần dần ngôi nhà này trở thành nơi hội tụ của người Việt Nam ở Paris. Thủ đô Paris là trung tâm chính trị xã hội không những của châu Âu mà còn của cả thế giới. Các đảng phái đại diện quyền lợi chính trị, kinh tế của giai cấp mình đua nhau thi thố làm cho không khí xã hội Paris càng thêm sôi động.

Qua một thời gian theo dõi diễn biến chính trị xã hội ở Pháp và tích cực liên hệ với những người Pháp, người Việt có tư tưởng tiến bộ, đặc biệt anh nhận thấy trong nhiều đảng phái chính trị thì Đảng Xã hội Pháp là Đảng tiến bộ – giương cao ngọn cờ của cuộc Đại cách mạng tư sản Pháp – Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Do đó, Nguyễn Tất Thành tự nguyện tham gia Đảng Xã hội Pháp vào đầu năm 1919.

Chiến tranh thế giới kết thúc. Nhiều tổ chức chính trị tiến bộ gửi yêu sách, nguyện vọng đến Hội nghị. Những người Việt Nam ở Pháp có Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường và Nguyễn Tất Thành đã thảo luận thống nhất Bản yêu sách tám điểm của những người yêu nước An Nam, ký tên Nguyễn Ái Quốc và từ đó tên gọi Nguyễn Ái Quốc xuất hiện. Nhờ nhạy cảm về chính trị và được sự chuẩn bị chu đáo, bản yêu sách đã được công bố công khai trên báo chí trước ngày khai mạc Hội nghị Vecxay. Do đó, nó nghiễm nhiên được đặt trước các nguyên thủ quốc gia tham gia Hội nghị và nhất là công luận đã lên tiếng thì nhân dân Pháp và các lực lượng tiến bộ sẽ ủng hộ. Nội dung yêu sách nói lên nguyện vọng của các dân tộc nhược tiểu, hy vọng những lời cam kết chính thức và quan trọng của các cường quốc về chế độ nhân đạo, công lý sẽ được thực hiện, những yêu sách này là những nguyện vọng chính đáng và nhu cầu tối thiểu cần được hưởng của một dân tộc, của một con người bình thường được sống trong thời đại.

Một sự kiện chính trị lớn khác trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Nguyễn ái Quốc, đó là ngày 16 và 17-7-1920, trên Báo Nhân đạo của Đảng Xã hội Pháp đăng bài “Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I Lênin đã gây xúc động lớn đến Nguyễn ái Quốc. Sau này Người nhớ lại: “Trong luận cương ấy có những chữ chính trị khó hiểu, nhưng cứ đọc đi, đọc lại nhiều lần, cuối cùng tôi cũng hiểu được phần chính. Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đày đọa đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta”. Từ đó tôi hoàn toàn theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”.

Nhờ những hoạt động tích cực đó mà Đảng Cộng sản Pháp mới có những động thái như thông qua “Lời kêu gọi những người bản xứ thuộc địa” do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, vạch trần những chế độ hà khắc của chủ nghĩa thực dân đối với những người bản xứ, phải chịu hai tầng áp bức – một là người lao động, hai là người bản xứ – kêu gọi đoàn kết đấu tranh chống kẻ thù chung. Trong cuộc đấu tranh của những người lao động bản xứ có sự ủng hộ của Đảng Cộng sản Pháp… Lời kêu gọi được Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng Việt, in truyền đơn, bí mật gửi về Việt Nam, thức tỉnh phong trào cách mạng trong nước.

Nguyễn Ái Quốc (người ngồi hàng đầu bên trái) với một số đại biểu dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V (7/1924).

Cũng trong những ngày trên đất Pháp, Người còn sáng lập ra “Hội Liên hiệp thuộc địa”, nhằm tạo hợp lực lượng, đoàn kết các dân tộc thuộc địa với giai cấp công nhân chính quốc để đấu tranh chống kẻ thù chung. Đây là mặt trận liên minh các lực lượng dân tộc bị áp bức, lần đầu tiên xuất hiện ở Pháp do một lãnh tụ thuộc địa, đó là Nguyễn ái Quốc đứng ra tổ chức. ảnh hưởng của anh càng lớn lao trên diễn đàn quốc tế bao nhiêu thì mật thám càng ráo riết theo dõi hoạt động cách mạng của anh bấy nhiêu.

“Hội Liên hiệp thuộc địa” được chính thức thành lập ngày 26/6/1921 tại Paris. Hội xây dựng chương trình, điều lệ và cử ra Ban Chấp hành của Hội. Hội ra bản tuyên ngôn do Nguyễn ái Quốc soạn thảo. Đặc biệt Hội đã cho ra tờ báo Người cùng khổ (Le Paria). Nguyễn ái Quốc vừa là chủ nhiệm kiêm chủ bút, viết bài, sau này cả phát hành báo.

Ngày 1/4/1922, báo ra số đầu tiên. Trang đầu đăng lời kêu gọi giống như một tuyên ngôn của báo. Tài chính của báo do sự ủng hộ nhiệt tình của các đồng chí Pháp cũng như trụ sở báo, phương tiện… Nhà văn nổi tiếng Pháp H. Bácbuýt nhận đỡ đầu cho báo, các đồng chí M.Casanh, G.Lêuy… tham gia viết bài cho báo. Từ lúc ra đời cho đến lúc dừng hoạt động (4/1926), toàn bộ báo ra được 38 số là một sự cố gắng lớn, trong đó vai trò của Nguyễn Ái Quốc rất quan trọng.

Ngoài việc lo hoạt động của báo, Người còn viết nhiều bài trên các lĩnh vực: xã luận, bình luận, truyện ký, tiểu phẩm, tranh vẽ, đưa tin, dịch thuật… là một cây viết chính, là linh hồn tồn tại và phát triển của báo. Những bài viết của Nguyễn Ái Quốc tập trung tố cáo chế độ bóc lột của thực dân trên toàn thế giới trong đó có Việt Nam. Vạch trần những thủ đoạn, mánh khoé bóc lột tư bản như đặt ra nhiều thứ thuế phi lý, sinh ra các tệ nạn xã hội như thuốc phiện, rượu, bắt lính, chiếm đoạt ruộng đất… Người kêu gọi, muốn xoá những chế độ bất công đó không có gì khác hơn là đoàn kết các dân tộc, đứng lên đấu tranh giai cấp. Hoà cùng tiếng nói với Báo Nhân đạo của Đảng Cộng sản Pháp, Báo Người cùng khổ đã tạo thành một mặt trận thống nhất chung của nhân dân thuộc địa với giai cấp vô sản và nhân dân lao động Pháp chống chủ nghĩa tư bản.

Như vậy là từ một người yêu nước nhiệt tình cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy con đường cứu nước và dấn thân vào cuộc đấu tranh để thực hiện thắng lợi con đường đó. Sáu năm hoạt động ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc từ người đi tìm đường trở thành người dẫn đường. Là đảng viên Cộng sản, trở thành người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, sau này sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào mùa xuân năm 1930. Năm 1941, sau vừa đúng 30 năm xa Tổ quốc, Bác Hồ của chúng ta đã trở về Tổ quốc lãnh đạo cách mạng Việt Nam vượt qua bao thác ghềnh và giành được độc lập vào mùa thu năm 1945

Xuân Ngọc – CAND Xuân 2011
cand.com.vn

Nguyễn Ái Quốc và Hội nghị Trung ương tháng 10-1930

Kỷ niệm 100 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5-6-1911/5-6-2011)

QĐND – Tháng 10-1930, Hội nghị Trung ương lần thứ nhất Đảng Cộng sản Việt Nam được tổ chức ở Hồng Kông, Hội nghị đã thông qua Luận cương cách mạng tư sản dân quyền do đồng chí Trần Phú khởi thảo, bầu Ban chấp hành Trung ương do đồng chí Trần Phú làm Tổng bí thư. Cho đến nay, vẫn còn nhiều câu hỏi xung quanh việc đánh giá vai trò của đồng chí Nguyễn Ái Quốc đối với hội nghị trên. Bài viết này chỉ tập trung làm rõ câu hỏi đó.

Sau sự kiện đồng chí Nguyễn Ái Quốc chủ trì hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 2-1930, đến tháng 10-1930 diễn ra Hội nghị Trung ương lần thứ nhất Đảng Cộng sản Việt Nam được tổ chức ở Hồng Kông. Hội nghị cũng đồng thời phê phán Hội nghị Hợp nhất tháng 1-1930 là kết luận không xác đáng, vấn đề thổ địa không rõ ràng và có nhiều chỗ không đúng.

Hội nghị đề ra Nghị quyết: Thủ tiêu Chánh cương, Sách lược và Điều lệ của Đảng.

Cho đến hôm nay, nội dung được thông qua tại Hội nghị Trung ương tháng 10-1930 gây cho nhiều người băn khoăn: Liệu đồng chí Nguyễn Ái Quốc có dự không, mà Hội nghị lại bác bỏ hầu hết những văn kiện do Hội nghị hợp nhất thông qua trước đó 9 tháng?

Bác Hồ đón Tết Trung thu với các cháu thiếu nhi quốc tế. Ảnh tư liệu.

Sự kiện Nguyễn Ái Quốc tham dự Hội nghị Trung ương tháng 10 năm 1930 đã được các nhà viết tiểu sử Hồ Chí Minh của Viện Hồ Chí Minh ghi nhận khi biên soạn cuốn “Hồ Chí Minh – Tiểu sử”, do GS Song Thành chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật xuất bản năm 2006 và tái bản năm 2010. Tuy nhiên, cho đến nay, trong giới nghiên cứu Lịch sử Đảng và Hồ Chí Minh học, vẫn còn ý kiến tồn nghi liệu sự kiện đó có chính xác không? Tôi tán thành ý kiến của Viện Hồ Chí Minh, thông qua 8 tư liệu hiện có, thuộc 4 khối tài liệu hiện đang có ở Kho tư liệu của Bảo tàng Hồ Chí Minh:

- Tài liệu do chính đồng chí Nguyễn Ái Quốc báo cáo.

- Báo cáo của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương.

- Hồi ký của những người đã từng tham dự Hội nghị này.

- Tài liệu mật thám.

I. Tài liệu của đồng chí Nguyễn Ái Quốc

1.Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị cho Hội nghị

Thư đề ngày 2-9-1930 gửi Ban Phương Đông – Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc cho biết Người dự kiến chương trình nghị sự của Hội nghị sẽ gồm có 4 việc:

a. Tự phê bình trong quá khứ

b. Kế hoạch công tác tiến tới Đại hội Đảng

c. Kế hoạch cho Đại hội Đảng

d. Kế hoạch gửi học viên đi đào tạo tại Mát-xcơ-va

2. Ngày 29-9-1930, Nguyễn Ái Quốc gửi báo cáo Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, cho biết: “Ba Ủy viên Trung ương từ Nam Kỳ đã tới đây ngày 19-9, chờ các đồng chí ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ tới…”.

3. Ngày 28-10-1930, báo cáo nhanh gửi Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc thông báo Hội nghị đã họp từ 12-10 và kết thúc 27-10, tóm tắt những Nghị quyết Hội nghị đã thảo luận và thông qua, như Cương lĩnh, Điều lệ Đảng; nhiệm vụ trước mắt của Đảng; bầu Tổng bí thư… kèm báo cáo tài chính chi tiêu cho Hội nghị.

II. Báo cáo của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương

1. Thư của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương gửi cho các cấp đảng bộ ngày 9-12-1930, viết: “Đồng chí ấy (tức Nguyễn Ái Quốc – Chu Đức Tính chú thích) nay đã nhận rõ những sai lầm và cũng đồng ý với Trung ương mà sửa đổi những chỗ sai lầm lúc trước”.

2. Báo cáo của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương gửi Quốc tế Cộng sản ngày 17-4-1931 cho biết “Các Nghị quyết của phiên họp đầu tiên của Ủy ban Trung ương, chúng tôi đã gửi các đồng chí qua đồng chí Quốc và nhờ đồng chí Quốc dịch ra tiếng Anh hoặc tiếng Pháp”.

III. Hồi ký của đồng chí Bùi Lâm

Đồng chí Bùi Lâm là người được Nguyễn Ái Quốc giác ngộ cách mạng từ hồi còn ở Pháp. Năm 1927, học tại Trường Đại học Phương Đông ở Mát-xcơ-va, rồi về công tác ở Văn phòng Ban Phương Đông của Quốc tế Cộng sản. Năm 1931, đồng chí Bùi Lâm về nước tham gia Xứ ủy Nam Kỳ, sau đó bị địch bắt và bị tù… Sau Cách mạng Tháng Tám, đồng chí Bùi Lâm công tác ở Tòa án Quân sự Liên khu III, Tòa án Hà Nội, Bộ Tư pháp, rồi Viện trưởng Viện Công tố, Đại sứ Việt Nam tại Bun-ga-ri. Trước khi từ trần năm 1974, là Viện phó Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao.

Tạp chí Cộng sản số ra tháng 9-1982 đăng Hồi ký của Bùi Lâm, do Thế Tập ghi, về Nguyễn Ái Quốc với Hội nghị lần thứ nhất Ban chấp hành Trung ương tháng 10-1930: “Hội nghị thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng khai mạc dưới sự chủ tọa của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, tại một nhà (không nhớ số) ở phố Cửu Nghĩa (Hương Cảng)… Tuy có vị trí và uy tín lớn trong Hội nghị này, nhưng đồng chí Nguyễn Ái Quốc rất khiêm tốn, lắng nghe và tôn trọng những ý kiến của tập thể. Chúng tôi thấy rất rõ ở Người ý thức tổ chức và tinh thần trách nhiệm rất cao. Ngay sau Hội nghị kết thúc, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã báo cáo ngay với Quốc tế Cộng sản và Ban Phương Đông về kết quả của Hội nghị, đồng thời Người cũng trình bày thêm với các đồng chí lãnh đạo Ban Phương Đông về những Nghị quyết của Hội nghị”.

IV. Tài liệu mật thám Pháp

1. Hồ sơ về Nuolens:

Nuolens tức Paul Ruegg – Trưởng ban Viễn Đông của Quốc tế Cộng sản, phụ trách Chi nhánh Ban Phương Đông tại Thượng Hải. Theo tài liệu của Kho lưu trữ lịch sử chính trị – xã hội quốc gia Nga (ký hiệu 495.153.569) và tài liệu mật thám Pháp (bản dịch lưu Kho tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh) thu được trong hồ sơ của Nuolens, có tài liệu tóm tắt về Đông Dương, trong đó có một văn bản ghi “Tháng 10-1930, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đã được nhóm họp. Theo báo cáo của đồng chí K.V (tức Nguyễn Ái Quốc, chú thích của tài liệu) mà chúng tôi nhận được từ chính đồng chí ngày 16-11-1930 thì đã có 6 đồng chí tham dự tại Hồng Kông, dưới sự chủ tọa của Nguyễn Ái Quốc”.

2. Lời khai của Ngô Đức Trì:

Bảo tàng Hồ Chí Minh hiện lưu bản dịch “Lời khai của Ngô Đức Trì với mật thám Pháp” trong tháng 5 và 6-1931, do đích thân Viện trưởng Hà Huy Giáp dịch từ bản tiếng Pháp. Theo tài liệu thì Ngô Đức Trì đã khai rõ mình cùng Trần Phú từ Liên Xô về Việt Nam. Cuối tháng 8-1930, Ban Chấp ủy Nam Bộ nhận được thư của Nguyễn Ái Quốc triệu tập các ủy viên Trung ương ở Nam Bộ sang Hồng Kông để họp Hội nghị Trung ương vào tháng 9. Ngày 4-9-1930, Ngô Đức Trì và Nguyễn Trọng Nhã (Sáu) xuống tàu Holiko đi Hồng Kông, đến nơi được đồng chí Lương (Hồ Tùng Mậu) đưa đi gặp Nguyễn Ái Quốc tại gác 2, nhà số 49, đường Khải Nghĩa, Cửu Long. Ngô Đức Trì còn khai với mật thám Pháp vì bị đau ruột thừa nên không tham dự suốt thời gian Hội nghị họp, nhưng “… cuối tháng 10, Sáu có đến thăm Trì tại bệnh viện và báo cho Trì biết Hội nghị đã kết thúc. Quốc và Lý Quý (Trần Phú) sẽ đi Thượng Hải trong vài ngày tới để liên lạc với Ban thư ký Bộ Đông Phương…”.

Như thế, câu hỏi “Nguyễn Ái Quốc có tham dự Hội nghị Trung ương tháng 10-1930 không?” đã có câu trả lời là có. Vậy sẽ xuất hiện câu hỏi thứ hai: Đồng chí Nguyễn Ái Quốc có mặt, vậy tại sao Hội nghị lại bác bỏ hầu hết những văn bản của Hội nghị hợp nhất do Nguyễn Ái Quốc triệu tập và chủ trì? Câu trả lời này ở ngay thư của Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương gửi các cấp đảng bộ ngày 9-12-1930. Ngay đầu thư, Thường vụ Trung ương đã phê phán: “Đảng hiệp nhất kể đã có sinh hoạt gần một năm rồi nhưng vẫn chưa có thể thống gì, đó là vì:

1. Hội nghị hiệp nhất chủ trương các công việc rất sơ sài, mà có nhiều điều không đúng với chủ trương của quốc tế.

2. Lâm thời Trung ương cử ra sau lúc Hội nghị hiệp nhất đã không nhóm một lần hội nào”.

Thư thông báo “Nay toàn thể Trung ương Hội nghị lần thứ nhất đã xong” và chỉ ra nguyên nhân vì sao chủ trương của Hội nghị hợp nhất lại có nhiều chỗ không đúng với chủ trương của Quốc tế Cộng sản?, bởi là vì: “Đồng chí đứng ra triệu tập Hội nghị hợp nhất năm trước kia thì được Quốc tế cho về tùy hoàn cảnh mà làm việc chứ chưa có được kế hoạch rõ ràng gì. Khi đồng chí ấy về đến nơi thì thấy phong trào cộng sản tuy mới nổi nhưng đã chia rẽ rồi, nên mới tự ý hành động có nhiều việc sai lầm không đúng với kế hoạch của quốc tế… Đồng chí ấy nay đã nhận rõ những điều sai lầm và cũng đồng ý với Trung ương mà sửa đổi những sai lầm lúc trước”.

Do nhiều nguyên nhân, trong đó rõ nhất là ảnh hưởng tả khuynh của Đại hội lần thứ VI – Quốc tế Cộng sản năm 1928, mà Quốc tế Cộng sản đã đánh giá chủ trương của Hội nghị hiệp nhất có nhiều điểm không đúng với chủ trương của Quốc tế Cộng sản, nên tất yếu Hội nghị Trung ương lần thứ nhất tháng 10-1930 phải “sửa đổi những sai lầm trong công việc của Hội nghị hợp nhất” và như thế, dù Nguyễn Ái Quốc là người tổ chức Hội nghị, hay chỉ tham dự Hội nghị thì nhất định phải tuân thủ chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, phải tự giác “nhận rõ sai lầm” và buộc phải sửa chữa sai lầm. Đây đúng là một sự trớ trêu nhưng đã diễn ra trong lịch sử. Vì ngay khi đó, Nguyễn Ái Quốc đã tin tưởng rằng mình đúng, không sai, nhưng không thể không chấp hành chỉ thị cấp trên. Đó là nguyên tắc số một của xây dựng Đảng: “Tập trung dân chủ” – nghĩa là cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức, bộ phận phục tùng toàn thể. Nguyễn Ái Quốc đúng mà bị hiểu sai – tình trạng đó không phải một năm mà kéo dài gần hết thập kỷ 30. Nhưng chính thời kỳ đó càng lấp lánh bản lĩnh kiên cường, trí tuệ và tấm lòng son sắt của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh với sự tồn tại và phát triển của Đảng, như chính người đồng chí – học trò của Người, Lê Hồng Phong đã nhận xét năm 1935: “Tôi biết rằng đồng chí Quốc rất tích cực trong hoạt động cách mạng và các vấn đề sự nghiệp của Đảng luôn được đồng chí đặt cao hơn cuộc sống cá nhân. Có thể nói rằng đồng chí ấy luôn sống và làm việc vì Đảng”.

TS Chu Đức Tính Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh
qdnd.vn

Cả cuộc đời vì sự chấn hưng dân tộc

Kỷ niệm 100 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5-6-1911/5-6-2011)

QĐND - Đã có rất nhiều học giả, nhà nghiên cứu dành không ít thời gian và tâm huyết để làm sáng rõ và hiểu sâu sắc, toàn diện hơn ý nghĩa lịch sử, giá trị thời đại của chân lý, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Nhân dịp kỷ niệm 100 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước, trong bài viết này, chúng tôi xin ghi lại buổi trò chuyện, trao đổi với PSG, nhà giáo nhân dân Lê Mậu Hãn – nguyên Chủ nhiệm Khoa Lịch sử, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Trường Đại học Khoa học-Xã hội và Nhân văn và Trường Đại học Khoa học tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội).

3 kỳ tích làm nên thắng lợi

Suốt cả cuộc đời, Hồ Chí Minh hiến dâng cho sự nghiệp chấn hưng của dân tộc Việt Nam. Hiện nay, dân tộc Việt Nam tiếp tục đi theo con đường của Người đã vạch ra. Đặc biệt, một điều vô cùng đáng khâm phục ở Hồ Chí Minh là Người luôn đi trước, đi trong hoặc song hành chứ không đi sau các sự kiện lớn của dân tộc và của thế giới. Nói riêng về quá trình tìm đường cứu nước của Bác, có thể đưa ra 3 luận cứ làm sáng tỏ điều này.

Nguyễn Tất Thành làm phụ bếp trên con tàu Amiran Latusơ Tơrêvin, đưa Người ra đi tìm đường cứu nước năm 1911. Ảnh tư liệu.

Thứ nhất, phải là người có tư duy mẫn cảm với thời cuộc thì Hồ Chí Minh mới có thể lựa chọn một con đường cứu nước, cứu dân mới vào đầu thế kỷ XX, khi các con đường cứu nước mà các vị tiền bối thực thi đều bế tắc và thất bại. Phải có một tinh thần phê phán đúng đắn, sự thấm nhuần vượt trội chủ nghĩa yêu nước nồng nàn, mới có được chuyến ra đi lịch sử của Người vào ngày 5-6-1911. Theo Người, con đường cứu nước của Hoàng Hoa Thám còn nặng cốt cách phong kiến đã không thể dẫn tới thắng lợi; con đường cầu viện Nhật Bản của Phan Bội Châu chẳng khác gì “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”; còn con đường cải lương của Phan Châu Trinh thì chẳng khác gì đến xin giặc rủ lòng thương. Việc không lặp lại thất bại của những người đi trước là một điều khó khăn, nhưng tìm ra một con đường mới phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử, đưa dân tộc giành được độc lập, tự do là một điều còn khó khăn hơn nhiều lần. Đây chính là một sự khước từ cái sai để đi tìm cái đúng; sự từ bỏ cái lạc hậu, lỗi thời để đi tìm cái tiên tiến, phù hợp với thời đại mới. Đó là sự vượt qua những lối mòn cũ kỹ để đi tìm được con đường mà dân tộc cần đi. Đó là sự khẳng định một bản lĩnh, một khả năng suy nghĩ độc lập và sáng tạo mà lịch sử đang đòi hỏi.

Có thể nói, vào thời đó, yêu nước nhiệt thành thì có rất nhiều người. Nhưng yêu nước để có một tư duy mẫn cảm, tư duy phê phán sắc sảo về các con đường yêu nước trước đó hoặc đương thời của các bậc cha anh rồi ra đi tìm con đường cứu nước mới, thì dường như chỉ có ở Nguyễn Tất Thành.

Điểm thứ hai trong sự nghiệp cách mạng tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc thể hiện rất rõ ở chỗ: Không phải bất cứ ai đều thành công trong việc đi tìm con đường cứu nước mới. Ở Hồ Chí Minh hội tụ đủ những yếu tố cần thiết cho sự dấn thân vào quá trình tìm đường, mở đường, dẫn đường cho dân tộc Việt Nam phát triển: Ý chí lớn lao, tinh thần ham học hỏi, sẵn sàng vượt qua mọi gian khó, sẵn sàng hòa mình vào cuộc sống của người lao động để cảm nhận thời cuộc. Người không có bằng cấp của học đường, nhưng ở Người hội tụ những tri thức uyên bác, cổ kim Đông – Tây, là sự chắt lọc, tiếp biến văn hóa, đúc kết thành khối tri thức và bản lĩnh chính trị, nhân cách cao đẹp. Nguyễn Tất Thành tiếp nhận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, qua đó tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn là bởi những yếu tố đó, khác với những bậc tiền bối yêu nước trước kia.

Điểm thứ ba làm nên thắng lợi trong sự nghiệp tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh là đã tìm được con đường cứu nước đúng đắn, nhưng phải vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với tình hình thực tiễn của dân tộc, của đất nước. Sau năm 1920 là thời gian trường kỳ truyền bá, huấn luyện, tổ chức để đưa con đường cứu nước đúng đắn về thực hành trên đất nước Việt Nam, mà một vấn đề có tính chất then chốt là thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam – một tổ chức để lãnh đạo, đoàn kết toàn dân tộc, hòa cùng thời thế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại và sức mạnh quốc tế để dân tộc ta phát triển theo con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Hồ Chí Minh luôn sống trong nhịp đập của đất nước bởi sự nghiệp của Người, tư tưởng của Người vẫn đồng hành cùng dân tộc. Tư tưởng của Người có trong hành trang của dân tộc Việt Nam và nhân loại cần lao tiến bước vào văn minh, tiến bộ. Cả cuộc đời Hồ Chí Minh là một thông điệp cho sự phát triển. Điều đó trở thành một tài sản tinh thần quý báu cho dân tộc Việt Nam, cho nhân dân lao động trên toàn thế giới.

Giá trị thời đại – nhìn từ góc độ hội nhập quốc tế

Xuất phát từ các giá trị văn hóa – văn minh nhân loại, lấy văn hóa soi đường cho quốc dân đi, đem văn minh chống lại dã man, vì vậy, sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng con người dưới sự dẫn dắt của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự nghiệp văn hóa – văn minh vĩ đại ở Việt Nam, trong đó, kết hợp chặt chẽ giữa giải phóng với phát triển và hoàn thiện con người. Đó là bí quyết thành công của cách mạng Việt Nam mà Người đúc rút từ tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại vận dụng vào nước ta. Điều đó cắt nghĩa trong mọi hoàn cảnh lịch sử, Người luôn chủ trương nâng cao dân trí, phát triển văn hóa, đẩy mạnh giáo dục đạo đức và nhân cách cho toàn dân, đi đôi với mở cửa tiếp thu tinh hoa văn hóa – văn minh nhân loại. Xã hội mà Người chủ trương xây dựng là sự kết hợp giữa việc thừa kế, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của văn hóa – văn minh dân tộc với tiếp thu tinh hoa văn hóa – văn minh nhân loại, thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa yêu nước – nhân văn Việt Nam và chủ nghĩa quốc tế trong sáng.

Suy cho cùng, con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh tìm thấy và dẫn dắt dân tộc thực hiện đã đưa tới những thắng lợi vĩ đại của dân tộc, đồng thời cũng là đóng góp vào giải quyết khát vọng lớn lao nhất, mục tiêu văn hóa – văn minh cao cả nhất của nhân loại là cải tạo thế giới để giải phóng con người.

Một thế kỷ đã trôi qua, chúng ta càng thêm thấu hiểu ý nghĩa lịch sử và giá trị thời đại của sự kiện Hồ Chí Minh “đi ra thế giới” để thâu thái những giá trị văn hóa – văn minh nhân loại, tìm đường cho sự sinh tồn và phát triển của dân tộc. Ngày 5-6-1911 không chỉ là sự kiện đánh dấu sự khởi đầu của quá trình tìm đường cứu nước của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành, mà còn là sự kiện mở ra quá trình Việt Nam từng bước hội nhập vào dòng tiến hóa theo xu thế mới của nhân loại dưới sự dẫn dắt của Người. Trong quá trình đó, trên cơ sở tiếp nhận những giá trị văn hóa – văn minh nhân loại và nắm bắt được xu thế phát triển của loài người trong thời đại mới, thông qua con đường cách mạng mà Người đã lựa chọn, Việt Nam đã kết hợp thành công sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo nên sức mạnh tổng hợp đem đến những thắng lợi vĩ đại cho cách mạng Việt Nam trong một thế kỷ qua. Mặt khác, trong quá trình đó, dân tộc ta đã góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại, làm cho thế kỷ XX trở thành thế kỷ phi thực dân hóa, thúc đẩy lịch sử loài người tiến lên theo hướng tiến bộ. Bởi vậy, kiên trì con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn không chỉ giữ vững mục tiêu độc lập – tự do – hạnh phúc cho dân tộc và mỗi người dân Việt Nam, mà còn là giữ vững các nhân tố đảm bảo cho thắng lợi của cách mạng nước ta để đất nước tiếp tục tiến bước mạnh mẽ, nhằm hoàn thiện những mục tiêu vì dân tộc, vì con người Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại vì hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với các giá trị trên đây, sự kiện lịch sử Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước càng có ý nghĩa thực tiễn. Với đường lối đổi mới của Đảng, trên thực tế, sự hội nhập quốc tế của Việt Nam cũng là tiếp tục quá trình dân tộc ta đi ra thế giới trong điều kiện lịch sử mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh để thâu nhận các giá trị văn hóa – văn minh nhân loại và nắm bắt xu thế phát triển của loài người, nhằm vận dụng và tiến hành thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tạo ra các điều kiện để thực hiện ngày một hoàn chỉnh các nội dung của tiêu chí độc lập – tự do – hạnh phúc cho dân tộc và con người Việt Nam.

100 năm đã trôi qua nhưng sự kiện Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước vẫn còn nguyên ý nghĩa lịch sử và giá trị thời đại. Ngày nay, trong hành trình hội nhập cùng nhân loại đi đến tương lai, chúng ta càng tin tưởng và kiên trì phấn đấu theo con đường Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã chỉ ra, quyết tâm đưa ngọn cờ tiên phong của Người đến đích thắng lợi.

Đào Hồng (ghi)
qdnd.vn

Chuyến đi thay đổi vận mệnh dân tộc

Kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước

QĐND – Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, chứng kiến cảnh nước mất, nhà tan cũng như sự tàn bạo của thực dân Pháp, cậu thiếu niên mới 13 tuổi quê ở làng Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An đã nung nấu ý chí một ngày nào đó sẽ tới nước Pháp để tìm hiểu cho ra nhẽ, tại sao một đất nước vốn nổi tiếng với cuộc cách mạng giành lấy tự do, bình đẳng, bác ái, nay lại đi xâm lược nước khác. Tám năm sau, ngày 5-6-1911, người thanh niên yêu nước 21 tuổi ấy đã quyết định rời Tổ quốc trên một chiếc tàu buôn của Pháp với cái tên Văn Ba để tìm hiểu sự thực về nước Pháp và con đường giải phóng cho dân tộc mình, đất nước mình.

Trong Hội thảo quốc tế Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay, tổ chức năm 2010, tại Hà Nội, nhiều học giả trong và ngoài nước đã đề cập khá chi tiết tới chặng đường 30 năm bôn ba ở nước ngoài của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nguyễn Ái Quốc tại đại hội Tua (Tours, Pháp), năm 1920. Ảnh: vietnamplus.vn

Quan điểm chung của các học giả trong và ngoài nước đều nhấn mạnh, trong suốt hành trình kéo dài 30 năm, ý nghĩ duy nhất, lớn nhất của người thanh niên ấy là giải phóng đồng bào, xóa bỏ ách áp bức, bóc lột của bọn thực dân, phong kiến, giành độc lập dân tộc; khẳng định Chủ tịch Hồ Chí Minh là con người của những bước ngoặt quan trọng, có tính quyết định tới vận mệnh của đất nước và dân tộc Việt Nam. Tư tưởng cùng sự cố gắng phi thường của người Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam đã làm thay đổi vận mệnh của dân tộc Việt Nam, từ thân phận nô lệ trở thành dân tộc tự do, độc lập, có vai trò và vị trí ngày càng lớn trên thế giới.

Từ năm 1911 tới năm 1917, Người đã đến nhiều nước châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Phi, sống hòa mình với nhân dân lao động. Thông cảm sâu sắc với cuộc sống cực khổ của nhân dân lao động và các dân tộc thuộc địa cũng như nguyện vọng thiêng liêng của họ. Chứng kiến cảnh những người dân lao động ở khắp các châu lục bị chế độ thực dân cũ áp bức bóc lột, Người đã rút ra kết luận rằng “dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: bóc lột và bị bóc lột; chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: Tình hữu ái vô sản”. Có thể thấy rõ, ngay từ rất sớm, Người đã nhận thức rõ ràng rằng, cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Việt Nam là một bộ phận trong cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới.

Cuối năm 1917, Người từ Anh trở lại Pháp tiếp tục hoạt động trong phong trào Việt kiều và phong trào công nhân Pháp. “Ở Pháp lúc đó, Hồ Chí Minh dùng hơn 200 bút danh để đấu tranh chính trị. Hồ Chí Minh chưa bao giờ rời bỏ mục tiêu của mình: đó là đem lại cho dân tộc mình, trong đó có những người thân của mình, sự tự do, nhân phẩm và quyền được làm chủ”, D.Đơ Mít-câu-lơ (D.De Miscault), Tổng biên tập Tạp chí Triển vọng Việt Nam – Pháp, nhận xét.

Theo các học giả Pháp tham dự Hội thảo, sự kiện nổi bật nhất mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại dấu ấn tại nước Pháp là vào năm 1919. Người lấy tên là Nguyễn Ái Quốc và thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi tới Hội nghị Véc-xây bản yêu sách đòi quyền tự do cho nhân dân Việt Nam và cũng là quyền cho nhân dân các nước thuộc địa. Tiếp đó, vào tháng 12-1920, Người trở thành một trong những người đầu tiên sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Năm 1921, Người cùng một số người yêu nước ở các nước thuộc địa của Pháp, không phân biệt màu da, sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa. Tháng 4-1922, Hội ra báo Người cùng khổ (Le Paria). Rất nhiều bài báo đanh thép tố cáo tội ác của thực dân Pháp của Người đã được đưa vào tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp.

Đánh giá về điểm sáng nhất trong 30 năm tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các học giả Nga, Pháp, Trung Quốc đã nhấn mạnh quãng thời gian Người tới nước Nga và bắt gặp ánh sáng của Cách mạng tháng Mười Nga, Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lê-nin. Thành công của Cách mạng tháng Mười và Luận cương của Lê-nin đã giải đáp trăn trở của Người về vấn đề giải phóng các dân tộc thuộc địa, giải phóng dân tộc Việt Nam. Hồ Chí Minh đã xúc động đến phát khóc khi gặp được Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lê-nin, Người đã thốt lên “đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”. Và cũng kể từ khi thực sự tìm được con đường giải phóng dân tộc mình, Người quyết tâm thực hiện bằng được sự nghiệp giải phóng dân tộc, giành độc lập dân tộc theo con đường Cách mạng tháng Mười, con đường cách mạng vô sản.

Kể từ khi gặp được ánh sáng của Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, của Cách mạng tháng Mười, Người hoàn toàn tin theo Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tin theo Quốc tế III. Ngay từ khi ấy Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mong muốn xây dựng một đảng cách mạng chân chính để lãnh đạo một nước thuộc địa nửa phong kiến như Việt Nam. Và ngày lịch sử cũng đã đến. Ngày 3-2-1930, dưới sự chủ trì của Người, Đảng Cộng sản Đông Dương đã được thành lập, sau này đổi tên thành Đảng Cộng sản Việt Nam, đã đánh dấu bước đi quan trọng và quyết định của cách mạng Việt Nam. Từ khi có Đảng, dưới ánh sáng của Đảng, sự chỉ đạo sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam đã đi từ thắng lợi này tới thắng lợi khác. Chiến thắng mọi kẻ thù, xây dựng tình đoàn kết quốc tế, tạo dựng một cuộc sống tốt đẹp hơn cho nhân dân Việt Nam.

Đánh giá chung về chặng đường 30 năm bôn ba, từ ngày 5-6-1911 tới ngày 8-2-1941, các học giả quốc tế cho rằng: Trong 30 năm ấy, không lúc nào Người ngừng nghĩ về dân tộc Việt Nam, chưa bao giờ Người đòi hỏi gì cho riêng mình. Con đường đúng đắn mà Người lựa chọn đã mang lại tự do, độc lập, hạnh phúc cho toàn thể nhân dân Việt Nam. Người mãi là gương sáng của người chiến sĩ cộng sản trọn đời vì nước vì dân, là biểu tượng khí phách anh hùng, ý chí độc lập, tự cường, sáng tạo và quyết thắng, không chịu khuất phục.

HOA HUYỀN (tổng hợp)
qdnd.vn