Archive by Author |

Công tác an ninh bảo vệ Hội nghị Paris

Kỉ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris (27/1/1973 – 27/1/2013):
Trong lịch sử ngoại giao Việt Nam, chưa từng có cuộc hội đàm nào kéo dài suốt 5 năm (Từ năm 1968-1973) như Hội nghị Paris. Hiệp định Paris là thắng lợi ngoại giao nổi bật, có vai trò và ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; là kết quả cuộc đấu trí, đấu lực kiên trì trên mặt trận ngoại giao. Tham gia vào Hội nghị Paris, có những cán bộ làm công tác an ninh và họ đã góp phần không nhỏ vào những thắng lợi trên bàn đàm phán.

Vào dịp kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris tôi may mắn được gặp ông Trần Hữu Diệt, một trong những cán bộ Cảnh vệ tại Hội nghị Paris, người trực tiếp bảo vệ đoàn Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đoàn Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam ngay từ những ngày đầu tiên đến ngày kết thúc cuộc hoà đàm lịch sử.

Ông Trần Hữu Diệt năm nay đã gần 80 tuổi, hiện là Trưởng ban liên lạc sĩ quan hưu trí Cảnh vệ. Người đầu tiên mà ông nhắc tới là Thiếu tướng Phan Văn Xoàn, nguyên Cục trưởng Cục Cảnh vệ (nay là Bộ Tư lệnh Cảnh vệ), người được đích thân Bộ trưởng Bộ Công an Trần Quốc Hoàn giao phụ trách công tác an ninh cho cả hai đoàn A và B (Đoàn A bảo vệ phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Đoàn B bảo vệ phái đoàn Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam).

Trong số 42 cán bộ Cảnh vệ được lựa chọn kĩ càng (lần lượt trong 5 năm) đưa đi bảo vệ Hội nghị Paris, hiện chỉ còn 27 người, 15 người đã về cõi vĩnh hằng. Thiếu tướng Phan Văn Xoàn nay đã trên 90 tuổi, đang sinh sống tại TP HCM; một số khác như ông Nguyễn Văn Việt ở Bắc Giang, ông Nguyễn Văn Chuyền ở Bắc Ninh, ông Lê Văn Chín ở Nghệ An, ông Phạm Quý ở Bà Rịa – Vũng Tàu còn lại phần đông nghỉ hưu tại Hà Nội và đều ở độ tuổi xưa nay hiếm.

Ông Diệt nhớ lại: Sau chiến thắng Mậu Thân 1968, Hoa Kỳ buộc phải tính đến việc ngồi vào bàn đàm phán để tìm một giải pháp rút khỏi cuộc chiến tranh hao người tốn của, bị nhân dân thế giới và chính nhân dân Mỹ phản đối.

Đầu tháng 5/1968, chúng tôi mới được biết địa điểm đàm phán là Thủ đô Paris (Cộng hòa Pháp). Paris được lựa chọn sau khi xem xét nhiều địa điểm do các bên liên quan đưa ra. Đây là nơi có phong trào yêu nước mạnh mẽ của Việt kiều, trong đó nhiều người vẫn còn lưu giữ những kỉ niệm với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, luôn dành sự ủng hộ to lớn với sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.  Bên cạnh đó, Đảng Cộng sản Pháp sẵn sàng giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho phái đoàn đàm phán của ta.

Ông Diệt nhớ lại lời Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn nhắc nhở anh em Cảnh vệ trước ngày sang Paris: “Công tác an ninh bảo đảm an toàn tuyệt đối cho phái đoàn ta, phải xác định dựa vào sức mình là chính, đồng thời phải làm tốt công tác ngoại giao, vận động kiều bào”.

Mới đầu, ta thuê khách sạn Lutestia (quận 6, Paris) để đoàn Chính phủ ta sinh hoạt. Đây là một khách sạn sang trọng, anh em phấn khởi nghĩ là an toàn nhưng khi kiểm tra an ninh ta phát hiện có đến 16 máy nghe trộm ở nhiều chỗ trong các phòng; riêng phòng của đồng chí Xuân Thủy, Trưởng đoàn đàm phán có tới 6 cái! Thật là nguy hiểm. Tất nhiên ta không thể chuyển ngay địa điểm đến nơi khác một sớm một chiều mà phải lập tức có biện pháp đối phó. Từ đó bộ phận Cảnh vệ tham mưu cho đồng chí trưởng đoàn đề ra qui định: Tất cả mọi người không được trao đổi công việc tại phòng riêng, muốn trao đổi phải viết ra giấy rồi hủy luôn hoặc đến cơ quan Tổng đại diện nước ta ở phố LeVerrer để  giữ được bí mật. Khi cần thiết phải đi ra vườn trao đổi…


Ông Trần Hữu Diệt (thứ hai từ trái sang), người đã tham gia bảo vệ phái đoàn ta tại Hội nghị Paris. Ảnh: Duy Hiển.

Nhận thấy ở khách sạn Lutesia không thuận tiện cho công tác bảo vệ an ninh, hơn nữa giá thuê rất đắt nên đồng chí Phan Văn Xoàn báo cáo và đề nghị đồng chí Xuân Thủy chuyển địa điểm. Nhân một chuyến đoàn ta đến chào Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Pháp, đồng chí Xuân Thủy đã đề nghị và được đồng chí Tổng Bí thư đảng bạn nhiệt tình giúp đỡ, mời đoàn ta về lưu trú tại trường Đảng mang tên Maurice Thoresz (ở Choisy Le Roy, ngoại ô Paris).

Trường này có đủ phòng làm việc, phòng ăn, phòng nghỉ. Các đồng chí cộng sản Pháp đã dành mọi sự giúp đỡ tận tình, hiệu quả, cử 10 người bảo vệ, 10 lái xe, 10 người phục vụ… Thị trưởng sở tại cũng cử Cảnh sát thường  trực cùng bảo vệ với ta suốt ngày đêm và một đội môtô hộ tống đoàn ta khi di chuyển.

Chúng tôi đến nơi ở mới gần được một tháng thì đồng chí Lê Đức Thọ, Cố vấn đặc biệt của Đoàn đàm phán được Chính phủ ta cử sang Paris. Đồng chí đi kiểm tra thực địa và tỏ ý hài lòng, cảm ơn Đảng Cộng sản Pháp. Đồng chí nhắc lãnh đạo đoàn ta cần có một phòng bảo mật. Chấp hành ý kiến chỉ đạo của đồng chí Cố vấn đặc biệt, bộ phận kỹ thuật chỉ trong 3 ngày đã xây dựng xong một phòng đạt tiêu chuẩn, chống được nghe trộm. 

Nơi họp chính là ở Trung tâm hội nghị quốc tế thường diễn ra có 4 bên dự gồm: Hoa Kỳ; Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Cộng hòa Miền Nam Việt Nam; Việt Nam Cộng hòa,  nhưng các đoàn đều có một địa điểm riêng để họp kín. Đối với  đoàn ta,  nhờ một Việt kiều là ông Lê Ủy tìm thuê được một ngôi biệt thự 2 tầng xinh xắn ở phố Darthe thuộc thị xã Choisy Leroi. Đây là phố nhỏ ít người qua lại nên  đảm bảo được yếu tố bí mật.

Trong số 45 cuộc họp kín tại đây, đã diễn ra cuộc gặp lịch sử giữa Hariman (trưởng đoàn Mỹ) với Bộ trưởng Xuân Thủy vào đêm 30/10 rạng sáng 31/10/1968. Trong cuộc gặp, ông Hariman thông báo với Bộ trưởng Xuân Thủy: Trong vòng 24 giờ tới, Tổng thống Mỹ Johnson sẽ ra lệnh ngừng ném bom và bắn phá trên toàn miền Bắc Việt Nam, yêu cầu ta giữ bí mật thông tin này cho đến khi Tổng thống đọc xong bài diễn văn. Để đảm bảo bí mật, ta trao đổi với an ninh Mỹ tất cả hai đoàn đến địa điểm họp mặt đều đi xe dân sự, không có xe cảnh sát Pháp dẫn đường. Ông Hariman và an ninh Mỹ chấp nhận đề nghị này và tỏ ra tâm đắc với sáng kiến của phía Việt Nam.

Ngày 31/10/1968, Tổng thống Mỹ Johnson tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc từ ngày 1/11/1968. Sang đầu năm 1969, Hội nghị 4 bên mở ra, có hiện diện của đoàn Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam. Bà Nguyễn Thị Bình, ông  Dương Đình Thảo, ông Trần Bảo Kiếm… đại diện của Chính Phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam lần lượt sang Paris. Công tác Cảnh vệ lại thêm nhiệm vụ mới, số người phải bảo vệ được tăng thêm nhưng số sỹ quan Cảnh vệ vẫn như cũ.

Một trong những khó khăn của công tác bảo vệ là sự đeo bám của phóng viên báo chí đối với đoàn ta, vì một số báo chưa hiểu rõ tình hình, vẫn tỏ ra thiên vị phía Mỹ và Việt Nam Cộng hòa. Một số tờ báo cho rằng Mặt trận giải phóng là “bóng ma Việt cộng”, là “tay sai cộng sản Bắc Việt”… Nhưng khi hội nghị chính thức mở ra, với sự khôn khéo của hai trưởng đoàn ta và các thành viên trong đoàn, dần dần ta đã “thu phục được nhân tâm”.

Chuyện bảo vệ trên đường cũng lắm tình huống gay cấn. Paris thời đó cũng đã có tắc đường nhưng dĩ nhiên không căng thẳng như Hà Nội bây giờ. Để đưa Đoàn đến địa điểm đúng giờ họp, chúng tôi thường cho người đi tiền trạm, thấy không tắc đường mới bàn với cảnh sát Pháp cho xe dẫn. Biện pháp này tỏ ra hiệu quả, nên phía bạn cũng rất vui vì họ cũng hoàn thành nhiệm vụ.

Cũng có lần xảy ra sự cố, do đường vắng nên xe cảnh sát dẫn đường chạy tốc độ cao. Hôm đó đoàn ta đi dự buổi họp do kiều bào ta tổ chức ở nhà Tương tế khu phố La – tinh.  Lúc 24h đêm cuộc họp mới kết thúc, xe cảnh sát dẫn đoàn về nơi ở. Do tốc độ nhanh một xe cảnh sát đâm vào một xe ôtô khác khiến viên lái xe dẫn đường chết ngay tại chỗ. Hôm sau đoàn ta cử cán bộ mang vòng hoa đến viếng chia buồn. Người vợ cảnh sát lái xe rất xúc động nói: “Chồng tôi hy sinh là sự mất mát lớn đối với tôi và gia đình nhưng cũng góp một phần nhỏ vào cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam”. Tình cảm đó đến nay chúng tôi còn nhớ mãi.

Đến ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris về Việt Nam được ký kết. Thắng lợi ngoại giao lịch sử này có phần đóng góp của những cán bộ, chiến sĩ Cảnh vệ nói riêng và lực lượng CAND nói chung

Văn Chấn
cand.com.vn

Từ Hội nghị Pa-ri đến trận địa tên lửa Chèm

Ký Của N Văn Dương Duy Ngữ
Sau khi ký tắt bản Hiệp định Pa-ri về Việt Nam cùng với Tiến sĩ Hen-ri Kít-xing-giơ, cố vấn đặc biệt của Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ Ri-sớc Ních-xơn, cố vấn phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Lê Đức Thọ lập tức trở về Hà Nội. Vừa đặt chân xuống sân bay Gia Lâm, đồng chí Lê Đức Thọ đã đề nghị cho ông tới thăm trận địa tên lửa đánh thắng máy bay chiến lược B52 của đế quốc Mỹ, cùng với quân và dân Hà Nội làm nên chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” trong 12 ngày đêm tháng Chạp. Đó là trận địa Tiểu đoàn 77 ở gần bến phà Chèm. Đây là tiểu đoàn bắn rơi chiếc máy bay chiến lược B52 đầu tiên của Hà Nội đêm 18/12 và cũng là một trong những đơn vị lập công xuất sắc nhất, bắn rơi nhiều máy bay B52 nhất trong chiến dịch 12 ngày đêm.

Trời mùa đông lạnh giá, đùng đục màn sương khói, suốt từ sáng đến chiều không hề có một tia nắng nào. Những quả đạn tên lửa cắm kín lá ngụy trang trên công sự, nằm im lìm như những con hổ phục. Tự nhiên ông chợt nhớ tới ngôi mộ của Thái sư Trần Thủ Độ. Bên trên ngôi mộ không xây cất cầu kỳ, diêm dúa như các lăng tẩm đời Nguyễn mà chỉ duy nhất có một con hổ đá. Chẳng hiểu con hổ ấy được tạc theo di chúc của Thái sư Trần Thủ Độ hay chỉ là ý thích của người thợ đá và con cháu của ngài. Đến nay chưa thấy sử sách nào ghi lại. Chỉ biết rằng con hổ ấy nằm soải người rất thoải mái, đôi mắt lim dim như ngủ nhưng cái đuôi duỗi ra thì cứ như nó đang động đậy. Nó ngủ đấy nhưng cũng lại cảnh giác cao độ đấy. Chỉ cần kẻ thù có một động tĩnh nhỏ là nó lập tức quẫy đuôi vùng dậy và lao tới đối phương. Và cho tới lúc này, lúc đặt chân lên trận địa tên lửa, ông mới thực sự cảm thấy nhẹ nhõm là đã hoàn thành sứ mệnh cao cả mà Đảng, Nhà nước, nhân dân giao phó. Nhiều lúc ông cũng tự hỏi không hiểu sao có những phiên họp ông lại có thể ngồi đấu với Kít-xing-giơ liền một mạch 17-18 giờ đồng hồ. Tính theo tuổi ta, tuổi âm lịch năm ấy ông vừa tròn 60 tuổi. Còn Kít-xing-giơ mới ở độ tuổi ngoại bốn mươi. Một con người lúc nào cũng “mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao”.

Kít-xing-giơ có cái cổ to và ngắn, mái tóc quăn đen nhánh. So với người châu Âu, ông ta không lấy gì làm cao lớn, nếu không gọi là hơi lùn. Báo chí phương Tây lúc ấy vẫn bảo ông ta là con người của dao dĩa và gái. Ông ta ăn một bữa có thể hết một chú cừu tơ quay ròn và có thể đi với gái nhảy hết đêm này sang đêm khác. Dường như càng đi với gái nhảy thì đầu ông ta càng minh mẫn sáng láng hơn. Ông ta đã ỷ vào sức khỏe để đánh những keo vật thật dài khiến sức lực Lê Đức Thọ ông cạn kiệt, đầu óc ông lú lẫn, dễ thỏa thuận những điều khoản có lợi cho phía Mỹ. Kít-xing-giơ thường bắt đầu cuộc họp vào hai giờ rưỡi sáng (giờ Hà Nội). Đó là lúc tuổi già của đồng chí Lê Đức Thọ gặp nhiều khó khăn. Nhưng ông ta có cái tật hay đi đái vặt. Thành ra những lúc ông ta rời bàn họp là lúc đồng chí Lê Đức Thọ được nghỉ ngơi dăm ba phút và khi ông cần điều gì thì “quân sư” có thể cung cấp kịp thời cho ông. Nhưng đến bây giờ, có thể nói, ông đã chiến thắng, ông đã không để sơ hở một điều khoản nào. Và ông đã thực hiện được lời dặn của anh Ba: “Bất kỳ ở đâu cũng không được quên rằng mình là người Việt Nam, dân tộc Việt Nam”.

Hãy trở lại Tiến sĩ Hen-ri Kít-xing-giơ một chút. Khi còn là giáo sư giảng dạy bộ môn lịch sử thế giới ở Trường Đại học Ha-vớt, ông ta đã ôm giấc mộng chính khách. Sau nhiều năm nghiên cứu về sự phân chia quyền lực của thế giới hiện đại, ông ta đã viết một bản luận thuyết rất nổi tiếng. Ông ta đem bản luận thuyết của mình trình lên Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ hồi ấy là Giôn Ken-nơ-đi. Sau nửa tháng hồi hộp, mong đợi sẽ được Ken-nơ-đi gọi đến ngợi khen và tuyển dụng vào Nhà Trắng, nhưng thật không may cho học thuyết của ông ta, Tiến sĩ Kít-xing-giơ đã vấp vào cái đầu quá ư là thông minh và quái kiệt của Ken-nơ-đi. Tổng thống Mỹ mời ông ta đến Nhà Trắng, trao trả bản luận thuyết và nói bằng một giọng lạnh lùng, khúc triết:

- Cảm ơn ngài đã cho tôi đọc học thuyết của ngài. Nhưng thật tiếc, những điều ngài viết trong đó, tôi đã nghĩ đến cả rồi. Có nhiều điểm tôi còn nghĩ sâu hơn ngài kia, ví như…

Kít-xing-giơ chán ngán, thất vọng. Ông ta nghĩ thế là chấm dứt! Ông ta chẳng còn hy vọng tiến thân vào Nhà Trắng nữa. Nhưng chỉ mấy tháng sau thì Ken-nơ-đi bị ám sát. Lin-đơn Giôn-xơn lên làm Tổng thống Mỹ. Bạn bè khuyên ông ta lại đem bản học thuyết ấy nộp cho Tổng thống Lin-đơn Giôn-xơn xem sao. Ông ta không nghe. Trong thâm tâm, Kít-xing-giơ vốn coi thường Giôn-xơn là một người háo danh, ngu xuẩn và liều lĩnh.

Các đồng chí: Bộ trưởng Xuân Thủy, Cố vấn Lê Đức Thọ gặp gỡ phái đoàn ngoại giao Hoa Kỳ tại Hội nghị Pa-ri năm 1973. Ảnh: T.L.

Sau Tết Mậu Thân 1968, đội quân xâm lược Mỹ bị thất bại nặng nề ở Việt Nam. Tổng thống Giôn-xơn buộc phải tuyên bố không ra tranh cử chức tổng thống Mỹ nhiệm kỳ 2. Ri-sớc Ních-xơn là một ứng cử viên tổng thống Mỹ sáng giá của đảng Cộng hòa. Ở một quán bar nọ, bạn bè đã hỏi Kít-xing-giơ về Ních-xơn, xem ông ta đánh giá nhân vật này như thế nào? Chẳng phải suy nghĩ, ông ta bảo:

- Đấy là một người ngu xuẩn và tàn bạo.

- Nếu ông ta đắc cử tổng thống thì thế nào?

- Thì càng ngu xuẩn và càng tàn bạo. Có thể sẽ ngu xuẩn và tàn bạo hết chỗ nói.

Không ngờ mấy câu nói của Kít-xing-giơ ở quán bar này đã bị bạn bè để lộ và báo chí phương Tây được dịp bán báo chạy.

Và Ri-sớc Ních-xơn đã đắc cử Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.

Vài tháng sau khi đắc cử Tổng thống, Ri-sớc Ních-xơn chợt nhớ tới bản luận thuyết của Tiến sĩ Hen-ri Kít-xing-giơ hồi nào đã được một số giáo sư sử học Trường Đại học Ha-vớt đánh giá rất cao. Còn Tổng thống Ken-nơ-đi thì lại bảo cái học thuyết ấy làm cho ông ta mỏi mệt. Ních-xơn rất muốn được đọc bản luận thuyết ấy. Ông ta mời Kít-xing-giơ đến Nhà Trắng.

Kít-xing-giơ nhận được điện sợ run cầm cập. Ông ta nghĩ, Ních-xơn ngu xuẩn và tàn bạo sẽ trả thù ông ta về những lời ông ta nhận xét Ních-xơn hồi nào. Ông ta mời bạn bè, chỉ mời những người đã trực tiếp nghe ông ta nói đến đúng cái bàn của quán bar mà ông ta đã có lời nhận xét chẳng hay ho, tốt đẹp gì về Ních-xơn. Ông ta đãi bạn một bữa rượu uýt-xki cho kỳ đến say mềm người ra. Ông ta bảo đây là bữa rượu vĩnh biệt, bữa rượu cuối cùng. Rằng thế nào Ních-xơn cũng trả thù.

Ních-xơn đứng ở cửa phòng khách đón Kít-xing-giơ. Ních-xơn nói luôn:

- Tôi muốn mời ngài cộng tác với tôi và tôi muốn được xem bản luận thuyết của ngài đã đệ trình Tổng thống Ken-nơ-đi.

Tiến sĩ Kít-xing-giơ bàng hoàng, không còn tin ở tai mình. Nhưng đó là sự thật. Ông ta xin được suy nghĩ trong nửa tháng. Nửa tháng chờ đợi là nửa tháng ông ta hoang mang, lo sợ đến tột độ. Ông ta bỏ giờ dạy nằm bẹp dí ở nhà. Không hiểu Ních-xơn tàn bạo và ngu xuẩn nói thật hay bông đùa trước cái chết của ông ta.

Đúng nửa tháng, theo lời hẹn, Kít-xing-giơ đến Nhà Trắng nộp bản luận thuyết về thế giới hiện đại cho Ních-xơn và nói:

- Tôi xin được cộng tác với ngài.

Đọc xong bản luận thuyết của Kít-xing-giơ, Ních-xơn mừng rơn. Ông ta nôn nóng gọi điện cho Kít-xing-giơ bảo:

- Tôi đã đọc xong bản luận thuyết của ngài. Tôi muốn mời ngài làm cố vấn an ninh cho tôi. Tôi nghĩ, ở cương vị này, ngài tha hồ có điều kiện thực hiện học thuyết của mình. Ngài đồng ý nhận lời chứ.

Kít-xing-giơ sung sướng đến bàng hoàng. Và ông ta đã bước chân vào Nhà Trắng như vậy đấy. Ông ta quả thực là một con bài đắc lực của Ních-xơn.

Cố vấn Lê Đức Thọ nghe nói, nhiều chính khách trên thế giới sợ cái ánh mắt sắc sảo, lạnh lùng đằng sau cặp kính cận dày cộp của Kít-xing-giơ, tới mức không dám nhìn thẳng vào mặt ông ta. Tiến sĩ Kít-xing-giơ có tật ngồi trước đối phương thường hay cắn móng ngón tay cái. Ông ta vừa cắn móng tay vừa nghiêng nghiêng mắt thôi miên đối phương để tính toán những nước cờ. Do vậy đối phương chỉ sợ ông ta đọc được những ý nghĩ của mình. Và quả thực có nhiều chính khách đã bị ông ta bắt thóp và dồn tới chân tường, buộc họ phải theo ý đồ của ông ta.

Vậy mà trước ánh mắt thông minh, lì lợm, sắc sảo và lạnh lùng ấy, cố vấn Lê Đức Thọ chưa một lần phải lảng tránh. Đồng chí Lê Đức Thọ chỉ mong ông ta, Tiến sĩ Kít-xing-giơ hiểu được ông, đoán được ý ông, hiểu được con người Việt Nam, càng nhanh càng tốt. Nhưng ông ta vẫn không chịu hiểu cho. Sở dĩ đồng chí Lê Đức Thọ có được một bản lĩnh kiên cường như vậy trước Tiến sĩ Kít-xing-giơ là bởi nhờ có đồng bào và chiến sĩ miền Nam, đồng bào và chiến sĩ ở hậu phương lớn miền Bắc đã càng đánh càng thắng, càng dồn đế quốc Mỹ vào thế bị động lúng túng, tạo điều kiện thuận lợi cho đồng chí trên mặt trận ngoại giao. Có lần, cố vấn Lê Đức Thọ đã nói thẳng với ông ta rằng:

- Ngay từ đầu năm 1965, chính quyền Mỹ leo thang chiến tranh, đổ quân vào chiến trường miền Nam Việt Nam, tăng cường dùng máy bay ném bom phá hoại miền Bắc Việt Nam, đồng chí Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng chúng tôi đã nhận định:

Chính quyền Mỹ không hiểu dân tộc Việt Nam ta. Đó là cái bại thứ nhất của Mỹ.

Chính quyền Mỹ chỉ thấy mình mạnh, chỉ thấy chiến thắng. Đó là cái bại thứ hai của Mỹ.

Chính quyền Mỹ muốn đánh nhanh, thắng nhanh, thì chúng ta (tức chúng tôi) trường kỳ mai phục, đánh lâu dài, căng địch ra khắp các chiến trường mà đánh. Đánh ở núi rừng, đánh ở đồng bằng, đánh ở thành phố và thị xã, đánh vào nơi hiểm nhất của Mỹ. Đó là cái bại thứ ba của Mỹ.

Chính quyền Mỹ cậy có xe tăng, tàu bò, máy bay, cơ động nhanh nhưng không nhanh bằng chúng ta (tức chúng tôi) bám đất, bám dân hoạt động tại chỗ. Đó là cái bại thứ tư của Mỹ.

Chính quyền Mỹ cậy có nhiều bom, lắm đạn thì ta (tức chúng tôi) nắm lấy thắt lưng Mỹ mà đánh. Đó là cái bại thứ năm của Mỹ.

Mỹ vừa ra quân mà ta đã nhìn thấy năm cái bại của Mỹ thì ta (tức chúng tôi) nhất định thắng. Mỹ nhất định thua.

Đấy là chưa kể nhân dân Mỹ (các ông) không ủng hộ cuộc chiến tranh bẩn thỉu, phi nghĩa của chính quyền Mỹ. Nhân dân tiến bộ thế giới cũng không đồng tình ủng hộ Mỹ.

Cố vấn Kít-xing-giơ nghe xong, mỉm cười bảo:

- Để rồi xem. Thực tiễn ở chiến trường Việt Nam sẽ trả lời sự nhận định của ông Bí thư thứ nhất đảng các ngài.

Ngừng một lát, ông ta nói thêm:

- Liệu các ngài có đủ lực để đánh lâu dài với Mỹ không?

Cố vấn Lê Đức Thọ nói:

- Chủ tịch Hồ Chí Minh của chúng tôi đã nói đại ý là dù cuộc chiến tranh kéo dài 5 năm, 10 năm hay lâu hơn nữa chúng tôi cũng đánh. Dù Mỹ có B52, B57 hay B gì đi nữa thì chúng tôi cũng đánh và đã đánh là thắng. Hẳn ngài còn nhớ cuộc khởi nghĩa Lam Sơn của dân tộc chúng tôi chứ? Lực lượng của cuộc khởi nghĩa lúc đó rất nhỏ bé so với hàng chục vạn quân địch. Địch vây ráp mọi phía. Vua tôi phải nhiều phen thoát hiểm, ăn đói mặc rách. Và cuối cùng là Vương Thông tháo chạy, quân Minh cuốn gói, Liễu Thăng bị chém đầu. Tôi mong muốn Chính phủ Mỹ các ngài nên biết điều hơn, nên xuống thang từng nấc để không phải tháo chạy như vậy. Ngài có biết tại sao chúng tôi chiến thắng không? Chúng tôi chiến thắng là bởi vì chúng tôi dám lấy ít đánh nhiều, dám lấy yếu thắng mạnh, dám lấy quân mai phục đánh quân từ xa tới. Chúng tôi lúc nào cũng lấy nhân nghĩa thắng hung tàn.

Cố vấn Kít-xing-giơ nói cứng:

- Xin cảm ơn ngài.

Giờ đây đặt chân lên trận địa tên lửa Tiểu đoàn 77, gặp những người chiến thắng B52, chợt nhớ lại những lời nhận định của anh Ba, cố vấn Lê Đức Thọ vô cùng xúc động. Ông ôm chầm lấy Tiểu đoàn trưởng Đinh Thế Văn, giọng như nghẹn lại:

- Cảm ơn các đồng chí! Cảm ơn các đồng chí! Các đồng chí đánh rất giỏi, bắn rơi được nhiều máy bay chiến lược B52. Các đồng chí đã cho tôi sức mạnh, cho tôi tiếng nói đĩnh đạc, kiên quyết ở Hội nghị Pa-ri. Các đồng chí cho tôi tiếng nói của người chiến thắng!

Ngừng một lát, ông tâm sự:

- Có ba điều khoản tôi phải đấu với Kít-xing-giơ gay go nhất, quyết liệt nhất. Một là: Hoa Kỳ và các nước khác phải tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam như Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 về Việt Nam đã công nhận. Hai là: Mỹ phải rút hết quân đội Mỹ và các phương tiện chiến tranh, phải ngừng viện trợ vũ khí, khí tài cho chính quyền Nguyễn Văn Thiệu – đồng chí Lê Đức Thọ cười vang – Nhưng quân ta thì lại phải ở nguyên tại chỗ. Điều thứ ba là Mỹ phải thả hết tù chính trị. Nhưng nhờ có các đồng chí nên hôm 28/12/1972 vừa rồi tôi trở lại Pa-ri với khí thế của một dân tộc đã làm nên một “Điện Biên Phủ trên không”. Do vậy, Tiến sĩ Kít-xing-giơ dễ dàng chấp nhận những điều khoản còn lại. Do một nguồn tin tình báo của ta, bè lũ Ních-xơn đem máy bay B52 đánh phá Hà Nội, Hải Phòng… để hòng đè bẹp ý chí một dân tộc và cũng để giết tôi, bởi tôi vừa đặt chân xuống sân bay Gia Lâm. Nhưng phía Mỹ đã lầm. Họ có thể giết tôi, Lê Đức Thọ. Nhưng dân tộc thì lại có Lê Đức Thọ phảy, kết tinh cho tinh thần dân tộc, có điều họ cũng gây khó khăn, gây gián đoạn cho Hội nghị Pa-ri. Họ muốn đảo ngược thế cờ, quyết thảo luận, sửa lại những điều khoản họ đã buộc phải chấp nhận. Tôi biết Kít-xing-giơ căm thù tôi, bởi tôi đã đại diện cho dân tộc, cho Đảng ta buộc ông ta chấp nhận thất bại.

Ông ngừng lời, ôm hôn sĩ quan điều khiển Đức và các trắc thủ Hà Nội. Ông luôn nói:

- Cảm ơn các đồng chí! Cảm ơn các đồng chí! Các đồng chí đã cho tôi sức mạnh. Bản Hiệp định Pa-ri là thắng lợi của nhân dân Việt Nam. Đây là thắng lợi của tinh thần độc lập, tự chủ. Kít-xing-giơ buộc phải thú nhận với tôi rằng sau nhiều năm chạy ngược chạy xuôi từ nước này tới nước khác, ông ta mới tìm thấy chiếc chìa khóa hòa bình của Việt Nam là ở Việt Nam, ở Hà Nội. Tôi xin cảm ơn các đồng chí! Cảm ơn các đồng chí!

D.D.N.
cand.com.vn

Chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không: Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam

Đại Tá TS Nguyễn Thành Hữu
Đêm 20 rạng ngày 21/12/1972, đế quốc Mỹ tung hàng loạt máy bay B-52 oanh tạc tàn phá Hà Nội. Với ý chí quyết chiến quyết thắng, ta thắng lớn, bắn rơi 19 máy bay địch, trong đó có 7 chiếc B-52. Chỉ trong 9 phút của đợt đầu, ta đã bắn rơi 3 máy bay B-52, trong đó có 2 chiếc rơi tại chỗ, trong 20 phút của đợt 3 ta đã bắn rơi 4 máy bay B-52, trong đó có 3 chiếc rơi tại chỗ. Pháo đài bay Mỹ hạ gục trước ý chí, trí tuệ của người Hà Nội.

Hẳn nhiều người biết, từ 19h20 ngày 21/12/1972, đế quốc Mỹ tập trung 93 lần chiếc B-52 cùng 151 lần chiếc không quân chiến thuật tổ chức tập kích ba trận vào Hà Nội, Hải Phòng và Thái Nguyên. Tại Hà Nội, địch đánh các đầu mối giao thông, chân hàng ở Bắc ngoại thành, Nhà máy Xe lửa Gia Lâm, sân bay Nội Bài, Khu tập thể An Dương. Xen kẽ giữa các trận đánh của B-52, địch tăng cường 25 chiếc F-111 hoạt động…

Sau hai đêm, địch thay đổi thủ đoạn và quy luật đánh phá, nhận ra đối thủ chính của chúng là tên lửa. Do đó, trước khi đưa B-52 vào, ngoài việc đánh phá các sân bay của F-111, chúng đưa F4 và F-105 lùng sục các trận địa tên lửa của ta để dọn đường; tăng cường nhiễu các loại; tăng cường sử dụng các tốp B-52 giả.

Bộ đội rada vẫn đĩnh đạc phát hiện và thông báo các tốp B-52 cho chiến dịch. Không quân ta khắc phục khó khăn do các sân bay bị địch đánh phá và khống chế liên tục, sửa chữa không kịp, cất cánh từ đường lăn lên đánh B-52. 19h27, hai tốp MIG cất cánh lên hướng Việt Trì, Phú Thọ và Mộc Châu, Suối Rút.

Từ 19h41 đến 19h55, nhiều tốp B-52 giả vào khu vực hỏa lực. Bộ đội ta nhanh chóng nhận dạng tín hiệu B-52 giả, nên không một tiểu đoàn tên lửa nào đánh nhầm. Đây là một thành công lớn trong cuộc đấu trí với địch. 20h5, 2 tốp B-52 vào đánh khu vực Gia Lâm. Tiểu đoàn 93 Trung đoàn tên lửa 261 Quân chủng Phòng không – Không quân (PKKQ) xử trí nhanh sau khi phóng 2 quả thấy tín hiệu mục tiêu trong nhiễu đã phóng bồi quả thứ 3 diệt một B-52 rơi tại Yên Thượng, Yên Viên cách trung tâm Hà Nội 10km.

Trận đánh thắng đầu tiên trong đêm 20/12 của Tiểu đoàn 93 đã giải tỏa được những căng thẳng sau đêm 19 không bắn rơi tại chỗ được B-52. Các tiểu đoàn khác tiếp tục đánh các tốp B-52 đi sau đội hình.

Xác pháo đài bay B52 tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự. Ảnh: Duy Hiển.

20h34, Tiểu đoàn 77 Trung đoàn tên lửa 257 lợi dụng thuận lợi của một trận địa chốt, phát sóng bắn trúng 1 máy bay B-52 rơi xuống xã Vạn Thắng, huyện Ba Vì, Hà Tây. Sau thắng lợi giòn giã ngay từ đợt đầu, khí thế chiến đấu của bộ đội thay đổi hẳn. Kinh nghiệm của các tiểu đoàn 93, 77 Quân chủng PKKQ được nhanh chóng phổ biến đến các đơn vị. Tiếp đó, 20h36, Tiểu đoàn 94 Trung đoàn tên lửa 261 nỗ lực đánh tập trung bắn trúng 1 máy bay B-52 rơi tại biên giới Thái Lan – Lào. Tiểu đoàn 76 Trung đoàn tên lửa 257 cũng vận dụng phương pháp phát sóng gần bắt mục tiêu. Nhưng do thao tác không hợp lý, không đúng thời cơ nên bị tốp hộ tống B-52 phóng tên lửa tự dẫn vào trận địa làm đơn vị tạm thời mất sức chiến đấu. 

Phối hợp chiến đấu, hỏa lực pháo súng phòng không tầng thấp của ta đánh rất mãnh liệt chặn đánh F-111. Lúc 21h, phòng không dân quân tự vệ ở trận địa Vân Đồn đã bắn rơi 1 chiếc F-111.

Tại Hải Phòng, lúc 22h22, Tiểu đoàn 72 Trung đoàn tên lửa 285 bắn rơi 1 máy bay F4; lúc 0h10 ngày 21-12, Tiểu đoàn 83 Trung đoàn tên lửa 238 cùng pháo phòng không khu vực bắn rơi một F4 nữa.

Tại Thái Nguyên, từ 23h30 đến 0h45, B-52 đánh vào Nhà máy Điện Cao Ngạn và Nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ.

Tại Hà Nội, máy bay F-111 vào đánh xen kẽ. Các tốp máy bay cường kích chiến thuật săn tìm trận địa tên lửa, bay lởn vởn vòng ngoài hỏa lực làm mồi nhử cho tên lửa đánh để khi B-52 vào thì tên lửa không còn đạn, đồng thời nhử cho ta phát sóng tự bộc lộ đội hình để đánh trả bằng tên lửa tự dẫn. Các tiểu đoàn tên lửa đã dày dạn với thủ đoạn nghi binh của địch nên không bị đánh lừa.

4h10 ngày 21/12, địch lại tổ chức trận tập kích thứ ba vào Hà Nội với 45 lần chiếc B-52. Lúc này, đạn tên lửa ở các trận địa của ta còn rất ít. Tình huống hết sức khó khăn, Bộ Tư lệnh chiến dịch, Quân chủng và Sư đoàn Phòng không Hà Nội chỉ thị các đơn vị tích cực đánh bằng phương pháp hiệu quả nhất, đánh tiết kiệm đạn, đánh chắc thắng, tiếp tục bắn rơi tại chỗ B-52; đồng thời chỉ thị cho Cục Kỹ thuật tìm mọi cách tăng nhanh số lượng đạn ở các tiểu đoàn hỏa lực; các lực lượng pháo cao xạ tích cực đánh bảo vệ trận địa tên lửa…

Cán bộ, chiến sĩ bảo đảm kĩ thuật làm việc liên tục, lắp ráp, vận chuyển tiếp đạn tên lửa với tinh thần tất cả vì chiến thắng, cho đến gần sáng ngày 21, đạn đã được bổ sung tương đối đầy đủ cho các trận địa hỏa lực.

Tên lửa ta sẵn sàng cho trận quyết chiến chiến lược 12 ngày đêm tháng 12 năm 1972.

Sau các trận đánh tập trung, khi đạn bảo đảm chưa kịp, các đơn vị phải cân nhắc tính toán sử dụng trong từng trận và chọn phương pháp điều khiển thích hợp. Lúc 5h9, Tiểu đoàn 77 bắn trúng một B-52 rơi xuống Phúc Yên, Tiểu đoàn 57 Trung đoàn tên lửa 261 bắn rơi 1 máy bay B-52 khác. Năm phút sau, Tiểu đoàn 79 Trung đoàn tên lửa 257 lại bắn rơi 1 máy bay B-52 tại khu vực Phả Lại. Với cự li đánh và phương pháp điều khiển thích hợp, với trình độ bám sát điêu luyện của kíp chiến đấu, chỉ 13 phút sau, bằng một quả đạn, Tiểu đoàn 57 Trung đoàn tên lửa 261 bắn 1 chiếc B-52 rơi xuống khu vực chợ Thá – Núi Đôi. Đó là trận đánh cuối cùng kết thúc chiến đấu đêm 20 rạng sáng 21/12 và cũng là trận đánh hết sức điển hình về tài nghệ chiến đấu của bộ đội tên lửa.

Trận đánh đêm 20 rạng ngày 21/12 thực sự là một trận đánh then chốt tiêu diệt lớn B-52 của địch trong chiến dịch, làm thay đổi lớn về kế hoạch sử dụng lực lượng và cách đánh cả của địch và của ta. Trận đánh đêm 20 đã phá vỡ kế hoạch ban đầu của cuộc tập kích chiến lược. Níchxơn cho rằng chỉ cần ba ngày cũng đủ làm cho ta phải khuất phục. Nhưng thực tế trong ba ngày, 30 máy bay bị bắn rơi, trong đó có 11 chiếc B-52 kể cả 1 chiếc do tên lửa ta ở Nghệ An bắn rơi, tỉ lệ máy bay B-52 bị bắn rơi ngày càng tăng.

Đối với ta, trận then chốt tiêu diệt lớn B-52 đêm 20 có ý nghĩa lớn về xây dựng quyết tâm và phát triển cách đánh chiến dịch, càng khẳng định vai trò của từng lực lượng trong tác chiến chiến dịch, tạo điều kiện cho cách đánh tập trung của tên lửa có hiệu quả, phát huy được mọi cách đánh của tiểu đoàn hỏa lực tên lửa. Chưa bao giờ truyền thống anh hùng của QĐND Việt Nam được phát huy cao độ trong chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” với niềm tự hào khôn tả

N.T.H.
cand.com.vn

Gặp người bắn rơi chiếc máy bay Mỹ cuối cùng trong trận chiến lịch sử

40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”:

Trong trận “Điện Biên Phủ trên không” tháng 12/1972, Không quân Việt Nam đã lập những chiến công giòn giã, góp phần vào thắng lợi vang dội của dân tộc: 24 lần xuất kích đã bắn rơi 7 chiếc máy bay, trong đó, có 2 chiếc B52. Các biên đội không quân 8 lần phá vỡ đội hình bay chiến đấu của địch, tạo điều kiện cho tên lửa và các lực lượng phòng không đánh thắng. Cùng với Anh hùng Phạm Tuân, Vũ Xuân Thiều, Trần Việt, Hoàng Tam Hùng…, phi công Bùi Doãn Độ cũng bắn cháy một máy bay Mỹ vào đêm cuối của cuộc không kích, 29/12/1972.

Chiến công này đặc biệt, bởi đây là chiếc F-4 đầu tiên bị Không quân ta bắn rơi vào ban đêm, bằng máy bay MiG-21, lại là chiếc máy bay cuối cùng của địch bị bắn rơi trong 12 ngày đêm máu lửa. Đây cũng là máy bay Mỹ cuối cùng do Không quân ta bắn rơi trên bầu trời miền Bắc. Vì chỉ vài tiếng sau, 7h sáng 30/12/1972, Tổng thống Mỹ Nich-xơn tuyên bố ngừng ném bom và chấp nhận quay lại bàn đàm phán. 

Sau tròn 40 năm, chúng tôi tìm gặp lại người đã hạ gục tên “giặc trời”, “khóa đuôi” chiến dịch lừng lẫy đó. Chàng trai trẻ nhất Phi đội đánh đêm 40 năm trước giờ đã là vị đại tá nghỉ hưu hiền lành, nhỏ nhẹ và khiêm nhường. Trong ngôi nhà rộng lớn bên đường Lê Trọng Tấn (Hà Nội), Đại tá Bùi Doãn Độ cùng chúng tôi ôn lại chuyện xưa.

Vượt qua những đợt kiểm tra nghiêm ngặt về sức khỏe, Bùi Doãn Độ nhập ngũ ở tuổi 16, rồi được sang Liên Xô học lái máy bay MIC-21. Tốt nghiệp năm 1970, tròn 20 tuổi, anh về nước nhận nhiệm vụ ở Phi đội 5, cùng Trung đội với Anh hùng Phạm Tuân.

Cuối năm 1972, tiên đoán khả năng Mỹ sẽ huy động B-52 đánh phá miền Bắc, Quân chủng Phòng không – không quân đã khẩn trương tổ chức huấn luyện bay đêm cho Phi đội 5. Gần 10 phi công bay giỏi, kỹ thuật tốt, bản lĩnh vững vàng được lựa chọn để tập luyện cất cánh với tên lửa bổ trợ, bay chặn kích máy bay B-52 bằng rada và kết hợp bằng mắt. Vì đánh đêm khó khăn hơn đánh ban ngày rất nhiều: không thể quan sát địch trực tiếp bằng mắt, mà phải dựa vào rada, trong khi địch luôn gây nhiễu sóng rada nên khó xác định được mục tiêu và cũng khó theo kịp nếu máy bay địch cơ động. Mà thời cơ phát hiện mục tiêu chỉ 10-15 giây.

Hơn nữa, các phi công đánh đêm còn hiểu rất rõ, cuộc chiến trên không vô cùng nguy hiểm, khi vừa phải đối mặt trực tiếp với kẻ thù, vừa có cả rủi ro từ chính các trận địa pháo cao xạ, pháo phòng không dày đặc ở mặt đất, vì có lúc, lệnh xuất kích của máy bay ta không thể thông báo kịp đến các đơn vị. Chính anh Bùi Doãn Độ trong một lần bay qua Việt Trì, cũng từng bị pháo cao xạ của ta bắn vì tưởng máy bay địch. Chúng tôi hỏi khi đó, anh có sợ không, Đại tá Bùi Doãn Độ cười hiền: “Chiến tranh là thế, có gì mà phải sợ! Khi đó, chúng tôi đều khao khát được trực tiếp chiến đấu, được tự mình bắn rơi máy bay địch để trả thù cho nhân dân Thủ đô, cho đồng đội, không ai nghĩ đến sự hi sinh.”

Đại tá Bùi Doãn Độ bên chiếc máy bay MIG21 từng tham chiến trong trận “Điện Biên Phủ trên không” tháng 12/1972.

Được chuẩn bị kỹ càng về kỹ-chiến thuật đánh B-52 cũng như tinh thần, nên toàn bộ Phi đội 5 bước vào chiến dịch 12 ngày đêm với khí thế hừng hực và quyết tâm cao: có điều kiện là kiên quyết tiêu diệt bằng được, dù đó là “thần sấm” B-52 hay các loại máy bay khác.

12h ngày 18/12/1972, cuộc chiến 12 ngày đêm bắt đầu. Trong suốt chiến dịch, anh Độ được xuất kích 4 lần: Ngày 21/12 sau khi cất cánh ở Sân bay Miếu Môn, anh gặp được B-52, nhưng vì độ cao chênh lệch quá lớn, không đủ điều kiện phóng tên lửa. Hai lần sau, anh xuất kích từ Sân bay Nội Bài nhưng lại không gặp địch. Đến ngày 29/12, cuộc chiến càng ác liệt. Địch đánh phá dữ dội Sân bay Miếu Môn, khiến các phi công phải đi ôtô về Sân bay Hòa Lạc, rồi mới đi máy bay trực thăng lên sân bay Nội Bài để lấy máy bay về Sân bay Kép trực chiến.

Trọn 1 ngày vất vả, căng thẳng. Đêm, bọn “giặc trời” F111 điên cuồng đánh phá, thì anh Độ được lệnh cất cánh. Lúc đó khoảng 23h. Nhưng không “săn” được B-52, anh Độ quay về, thì lại được Sở chỉ huy thông báo có địch. Ngay khi phát hiện địch, anh liền tăng tốc đuổi theo. Đúng lúc này, anh lại nhận thông báo phía sau cũng có địch và yêu cầu anh nhanh chóng công kích. Một giây cân nhắc, anh quyết tâm truy kích đến cùng chiếc F4 phía trước. Khi chọn được khoảng cách thích hợp, anh phóng 2 quả tên lửa cùng lúc, rồi nhanh chóng thoát ly theo lệnh của Sở chỉ huy.

Anh nhớ lại: Khi lật sang trái thoát ly, tôi thấy máy bay F4 của địch đang bốc cháy dữ dội và cắm xuống 1 góc khoảng 30 độ, bụng máy bay lật ngửa. Khoảng cách giữa máy bay của tôi và chiếc F4 chỉ chừng 100m, nên tôi có thể nhìn rõ từng chiếc đinh tán trên thân máy bay đang cháy. Niềm vui ngập tràn, vì đã được tham gia chiến đấu, lại bắn rơi máy bay địch. Trở về đơn vị, dù rất mệt nhưng tôi vẫn thao thức đến sáng với niềm hân hoan vô bờ.

Với chiến công đó, anh Bùi Doãn Độ đã vinh dự được tặng Huy hiệu Bác Hồ và Huân chương Chiến công hạng Ba.

Kết thúc chiến tranh, anh tiếp tục đi học ở Liên Xô, rồi trở thành chuyên gia cho nước bạn Campuchia, sau đó lại đi Pháp học trước khi trở thành Cơ trưởng loại máy bay ATR-72 của Hàng không Việt Nam, rồi về hưu năm 2010. Năm tháng trôi qua, Đại tá Bùi Doãn Độ cũng trải qua nhiều cương vị khác nhau, nhưng ký ức về những ngày được trực tiếp chiến đấu và lập công trong những ngày bảo vệ Thủ đô năm 1972 chưa bao giờ nguôi quên trong anh.

Vào những ngày này, khi cả nước hân hoan kỷ niệm 40 năm chiến thắng lịch sử “Điện Biên Phủ trên không”, Đại tá Bùi Doãn Độ càng thêm tự hào vì được sống lại giữa những cảm xúc hào hùng của ngày tháng lịch sử ấy, được gặp gỡ bao đồng đội yêu thương, gắn bó và nhất là, cảm nhận thật rõ rằng, sự cống hiến của mình đã không bị lãng quên!

Thanh Hằng
cand.com.vn

Sáng mãi phẩm chất cao đẹp của lực lượng Công an nhân dân

Hồng Vinh
Xuân Quý Tỵ về, mỗi cán bộ chiến sĩ, lòng tự nhủ lòng: Thường xuyên bồi đắp ý chí và phong cách người chiến sĩ Công an nhân dân theo 6 điều dạy của Bác Hồ; coi đó là đòi hỏi của lương tâm, danh dự, góp sức thiết thực làm rạng rỡ thêm những phẩm chất cao đẹp của toàn lực lượng đã được tạo dựng từ máu, mồ hôi, trí tuệ của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ trong gần bẩy thập niên qua!

Năm Nhâm Thìn trôi qua với bao thánh thức cam go. Thách thức từ sự nghiệt ngã của mưa bão, động đất, triều cường, rét đậm, rét hại nối nhau. Gian khó chất chồng từ sự suy giảm kinh tế vẫn kéo dài, đồng hành cùng những yếu kém tự thân trong chỉ đạo, quản lý chậm khắc phục. Những xử lý lúng túng, bất cập trước biến động khó lường của giá vàng, nợ xấu, hàng tồn đọng, đặc biệt sự “đóng băng” của thị trường bất động sản, đã và đang tác động xấu tới độ an toàn nền kinh tế nước ta. Trong khi đó, các loại tội phạm gia tăng hoạt động. Diễn biến phức tạp ở Biển Đông gây băn khoăn, lo lắng trong các tầng lớp nhân dân. Các thế lực cơ hội, thù địch triệt để khai thác những khó khăn nêu trên, thúc đẩy sự kích động, chống phá công cuộc đổi mới và hội nhập của nước ta.

Trong bối cảnh phức tạp đó, dưới sự chỉ đạo, điều hành sát sao của Đảng và Nhà nước, con tàu Việt Nam lần lượt vượt qua các đợt sóng lừng và cập bến với những tín hiệu khả quan: Tăng trưởng GDP đạt 5,03%. Chỉ số lạm phát (CPI) chỉ tăng 6,8% so với mức tăng 18,13% của năm 2011. Chúng ta đã nhanh chóng chuyển hướng từ nhập siêu nhiều thập kỷ chuyển thành xuất siêu. Trong điều kiện thời tiết dữ dằn, xuất khẩu gạo vẫn đạt 7,7 triệu tấn/năm. Bằng nhiều biện pháp quyết liệt, đã cải thiện bước đầu tình trạng hàng tồn kho, tính thanh khoản ngân hàng… Dự trữ ngoại hối tăng cao nhất từ trước tới nay. Quyết sách giảm lãi suất cho vay tín dụng xuống dưới 15% đã giúp một số doanh nghiệp trở lại hoạt động. Thực tiễn cho thấy, những chủ trương lớn được thông qua tại Hội nghị Trung ương 6 (khóa XI) trong năm nay, đã và đang được triển khai tích cực, hé mở cách tháo gỡ những vướng mắc, rào cản có hiệu quả.

Cùng với việc khẩn trương tái cấu trúc cơ cấu tài chính – ngân hàng, tiếp tục sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước, đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, Đảng, Nhà nước hết sức coi trọng nhiệm vụ bảo đảm an sinh xã hội. Chính phủ đã tập trung chỉ đạo thực hiện đồng bộ các chương trình, chính sách xã hội, trọng tâm là tạo việc làm, tăng thu nhập, đưa số hộ nghèo cả nước giảm 1,7%, tạo ra gần 1,2 triệu việc làm mới; bảo đảm chăm lo đời sống cho gần 9 triệu người có công; trợ cấp thường xuyên cho gần 2,3 triệu người… Nhờ sức mạnh tổng hợp của các biện pháp nêu trên, tình hình chính trị – xã hội ổn định, an ninh – quốc phòng được tăng cường, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững, vị thế quốc tế của việt Nam tiếp tục được phát huy…

Trong thành tựu quan trọng và có ý nghĩa nhiều mặt nêu trên, có sự đóng góp tích cực của lực lượng Công an nhân dân. Thông qua các phong trào thi đua yêu nước với khẩu hiệu hành động có sức lay động ý thức, tình cảm, danh dự của mỗi cán bộ, chiến sĩ, như: “Kỷ cương, trách nhiệm, hiệu quả, giữ vững an ninh trật tự, chủ động góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, đối ngoại của đất nước”. Với chủ trương gắn chặt phong trào thi đua “Vì an ninh Tổ quốc” với phong trào “Học tập và thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân” và Cuộc vận động “Công an nhân dân chấp hành nghiêm điều lệnh; xây dựng nếp sống văn hóa vì nhân dân phục vụ” đã tạo ra trong toàn lực lượng động lực mới, cổ vũ ý chí vượt lên khó khăn, tinh thần hiệp đồng, năng động, sáng tạo trong công tác và chiến đấu. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta ghi nhận những đóng góp quan trọng của lực lượng Công an nhân dân trong việc phát hiện, tiến công, truy bắt các loại tội phạm hoạt động có tổ chức, tội phạm về ma túy, tội phạm về quản lý kinh tế, tội phạm hoạt động công nghệ cao mang tính quốc tế…

Ảnh: Trang Dũng.

Nhiều đơn vị nêu cao tinh thần chủ động phát hiện và đề xuất nhiều giải pháp bảo vệ an ninh kinh tế; đấu tranh kiên quyết với những sai phạm nghiêm trọng trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng, khai thác khoáng sản, các dự án kinh tế lớn, giải quyết nhiều vụ việc về an sinh xã hội, nhất là các vụ liên quan tôn giáo, dân tộc, khiếu kiện, đình công, lãn công… Nhân dân ta đánh giá cao tinh thần dũng cảm, mưu trí của không ít cán bộ, chiến sĩ trong việc kịp thời phát hiện, bắt giữ các đối tượng gây án nghiêm trọng, như giết người, bắt giữ con tin; khám phá nhanh các đường dây buôn bán, vận chuyển ma túy lớn trên các vùng núi hiểm trở, xa xôi. Hưởng ứng phong trào “Cả nước chung tay xây dựng nông thôn mới”, toàn lực lượng xuất hiện và nhân rộng nhiều mô hình tích cực mang tính quần chúng rộng rãi, như “Xây dựng làng an toàn, khu dân cư an toàn, cơ quan, doanh nghiệp an toàn về An ninh Tổ quốc”, “Câu lạc bộ phụ nữ giáo dục con em không vi phạm pháp luật”, “Quần chúng nhân dân vây bắt đối tượng trộm cắp tài sản”… Sự phối hợp chặt chẽ với các bộ, ban, ngành, địa phương…, trong đó Công an nhân dân là nòng cốt, đã huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc, tạo nên thế trận an ninh nhân dân rộng lớn.

Trong cuộc chiến đối mặt với các loại tội phạm, nhân dân ta ghi ơn các cán bộ, chiến sĩ đã nêu cao tinh thần “Vì nước quên thân, vì dân phục vụ”, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh, như Trung sĩ, liệt sĩ Đỗ Đăng Long (Công an Hải Phòng), các liệt sĩ Hào A Sấu, Sùng A Châu (huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên), Thiếu úy Nguyễn Thanh Long (Công an Quảng Ninh)… cùng hàng ngàn gương cán bộ, chiến sĩ tận tụy, liêm khiết, không nhận hối lộ, giữ nghiêm kỷ luật, coi nhiệm vụ giữ bình yên Tổ quốc, từ vùng cao đến các hải đảo xa xôi, giữ cuộc sống an lành cho mỗi gia đình, xóm, ấp, phố phường, là trách nhiệm và niềm vinh dự thiêng liêng của mình.

Xuân Quý Tỵ về, mỗi cán bộ chiến sĩ, lòng tự nhủ lòng: Thường xuyên bồi đắp ý chí và phong cách người chiến sĩ Công an nhân dân theo 6 điều dạy của Bác Hồ; coi đó là đòi hỏi của lương tâm, danh dự, góp sức thiết thực làm rạng rỡ thêm những phẩm chất cao đẹp của toàn lực lượng đã được tạo dựng từ máu, mồ hôi, trí tuệ của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ trong gần bẩy thập niên qua!

H.V. (Báo CAND Tết 2013)
cand.com.vn

Sáu điều Bác Hồ dạy, tài sản vô giá của lực lượng CAND

Kỉ niệm 65 năm Công an nhân dân học tập và thực hiện Sáu điều Bác Hồ dạy:

Sáu điều Bác Hồ dạy CAND là một chỉnh thể thống nhất, quan hệ mật thiết với nhau không thể coi nhẹ một điều nào; điều trước là tiền đề cho điều sau, điều sau là hệ quả của điều trước.

Cách đây 65 năm, ngày 11/3/1948, trong thư gửi Công an Khu XII, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu “Tư cách người Công an cách mệnh là:

Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính;
Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ;
Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành;
Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép;
Đối với công việc, phải tận tụy;
Đối với địch, phải cương quyết, khôn khéo”.

Sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân (CAND) là chuẩn mực về nhân cách, đạo đức của người chiến sỹ cách mạng, là phương châm và thái độ đối nhân xử thế, mà mỗi cán bộ, chiến sĩ CAND phải rèn luyện, phấn đấu suốt đời. Sáu điều Bác Hồ dạy với nội dung phong phú, sâu sắc, đã bao hàm đầy đủ ý nghĩa và nội dung cách mạng và khoa học, lý luận và thực tiễn, phẩm chất và năng lực của người cán bộ, chiến sỹ CAND. Ở đó chứa đựng những giá trị nhân văn sâu sắc. một sự quy tụ cả “đức” và “tài”. Đó là “những đạo đức và tư cách mà người Công an cách mệnh phải có, phải giữ cho đúng”.

Sáu điều Bác Hồ dạy CAND là một chỉnh thể thống nhất, quan hệ mật thiết với nhau không thể coi nhẹ một điều nào; điều trước là tiền đề cho điều sau, điều sau là hệ quả của điều trước.

65 năm qua, khắc ghi lời Bác dạy, việc học tập và thực hiện Sáu điều Bác Hồ dạy trong lực lượng CAND thực sự đã trở thành phong trào thi đua mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc ngày càng phong phú, hiệu quả cả về nội dung và hình thức trong suốt chặng đường dài truyền thống lịch sử vẻ vang của lực lượng CAND.

Khởi nguồn từ đợt sinh hoạt chính trị của Công an Khu XII như Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Yên, Phú Thọ, Phúc Yên ở vùng tự do. Đặc biệt vào dịp kỷ niệm ngày sinh của Bác 19/5/1948, Nha Công an Trung ương phát động phong trào thi đua học tập Sáu điều Bác Hồ dạy với các hình thức hoạt động tổ chức “kiểm thảo thành thật”. Đối với cán bộ, chiến sỹ Công an, lấy Sáu điều Bác dạy làm tiêu chuẩn để kiểm thảo tại hội nghị được tổ chức năm 1948 tại Rừng Thông, huyện Đông Sơn, Thanh Hóa. Thông qua đó kiểm điểm rút kinh nghiệm ưu, nhược điểm của phong trào thi đua “Rèn cán bộ, lập chiến công”; và phong trào được phát động trong toàn lực lượng Công an. Cũng từ đó lãnh đạo Bộ Nội vụ, nay là Bộ Công an đã nhiều lần ra chỉ thị đẩy mạnh phong trào học tập thấm nhuần sâu sắc và thực hiện nghiêm túc Sáu điều dạy của Bác Hồ kính yêu đối với CAND.

Từ phong trào thi đua “CAND học tập, thực hiện 6 điều Bác dạy” đã xuất hiện ngày càng nhiều điển hình tiên tiến về ý chí kiên cường, về lòng trung thành tuyệt đối, về đức hy sinh, tận tụy, trí thông minh, sự sáng tạo với tinh thần “Vì nước quên thân, vì dân phục vụ” của cán bộ, chiến sỹ CAND.

Công an Khu IV, Khu V, Khu X tại Trại Tổng kiểm thảo tổ chức tại Rừng Thông, huyện Đông Sơn, Thanh Hóa, năm 1948.

Giai đoạn hiện nay, với trọng trách nặng nề mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, trong xu thế phát triển và chủ động hội nhập quốc tế, lực lượng CAND tiếp tục học tập, thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy với hình thức mới, trên tầm cao mới trong cuộc vận động “Tiếp tục học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; “Công an nhân dân vì nước quên thân, vì dân phục vụ”; “Công an nhân dân chấp hành nghiêm điều lệnh, xây dựng nếp sống vì nhân dân phục vụ”… Học tập thực hiện những lời dạy của Bác với mỗi tập thể và cán bộ, chiến sĩ Công an phải luôn thể hiện trong mỗi ý nghĩ, mỗi việc làm hằng ngày. Để phong trào thực sự đi vào chiều sâu, chúng ta cần xác định:

Thứ nhất, Sáu điều Bác Hồ dạy CAND đã, đang và mãi mãi là phương châm hành động, là định hướng cơ bản trong công tác xây dựng lực lượng CAND Việt Nam. Dù bất cứ ở đâu, hoàn cảnh nào, môi trường công tác nào, lĩnh vực hoạt động nào, việc học tập thấm nhuần sâu sắc và thực hiện nghiêm túc Sáu điều Bác Hồ dạy luôn luôn là việc làm thường xuyên, trở thành ý thức tự giác đi vào nếp sống của từng cán bộ, chiến sỹ CAND.

Thứ hai, phong trào học tập thực hiện Sáu điều Bác Hồ dạy CAND phải luôn đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, sự chỉ đạo của thủ trưởng công an các cấp, cần tiếp tục được duy trì, nâng cao chất lượng, thường xuyên liên tục, sâu rộng trong toàn lực lượng CAND. Trong mỗi thời kỳ lịch sử, ở mỗi lĩnh vực công tác, trên cơ sở lấy 6 điều Bác Hồ dạy xây dựng những nội dung, tiêu chí cụ thể, phù hợp với đặc điểm hoàn cảnh, điều kiện riêng của từng đơn vị, địa phương nhằm đạt hiệu quả thiết thực nhất.

Thứ ba, để xây dựng lực lượng CAND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại cần coi trọng xây dựng từ cơ sở, từ đơn vị và từng cán bộ, chiến sỹ. Lấy giáo dục chính trị, tư tưởng làm nhiệm vụ hàng đầu nhằm nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị, nghề nghiệp, ý thức tổ chức kỷ luật, năng lực cần thiết để thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao. Phong trào học tập, thực hiện 6 điều Bác dạy phải được gắn kết với phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trên cơ sở chịu sự kiểm tra giám sát của nhân dân từ khu phố, cụm dân cư. Đặc biệt trước những yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với cả những thời cơ và thách thức mới càng đặt ra cho cán bộ, chiến sỹ CAND những trọng trách nặng nề hơn. Vì thế, lực lượng CAND phải thực sự trong sạch, vững mạnh, phải nâng lên tầm cao mới phong trào học tập, thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy. Bởi lẽ như Bác kính yêu đã dạy: “Đạo đức cách mạng không phải từ trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Mỗi cán bộ, chiến sỹ Công an phải xác định rằng, dù bất cứ trong điều kiện, hoàn cảnh nào, Sáu điều Bác hồ dạy luôn là tài sản vô giá của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam

Anh Tuấn (Báo CAND Tết 2013)
cand.com.vn

Đóng góp của lực lượng Công an nhân dân vào thắng lợi của Hội nghị Paris về Việt Nam

(ĐCSVN) – Hiệp định Paris về Việt Nam được ký kết là “thắng lợi rất to lớn của cuộc kháng chiến oanh liệt nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam”. Thắng lợi đó là sự kết tinh của quá trình đấu tranh đầy cam go, thử thách của nhân dân ta và các lực lượng vũ trang trên cả 3 mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao.

Lực lượng công an nhân dân đã đóng góp không nhỏ
vào thành công của Hội nghị Paris về Việt Nam
(Ảnh tư liệu)

Cách đây 40 năm, ngày 27-1-1973, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết tại thủ đô Paris, nước Cộng hòa Pháp. Đây là văn bản pháp lý quốc tế có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng, thống nhất đất nước của nhân dân, quân đội ta dưới sự lãnh đạo của Ðảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu. Trong lịch sử đấu tranh của nhân dân ta, chưa bao giờ có cuộc đàm phán nào kéo dài, gay cấn, phức tạp và giành thắng lợi toàn diện cả mục tiêu đấu tranh chính trị, quân sự và ngoại giao như tại Hội nghị Paris. Nhân dân Việt Nam đã thực hiện được mục tiêu “đánh cho Mỹ cút”, mở ra một giai đoạn mới “đánh cho Ngụy nhào” như lời dạy và lời tiên đoán vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cuối cùng đã giành thắng lợi trọn vẹn thống nhất đất nước vào ngày 30-4-1975.Hiệp định Paris về Việt Nam được ký kết là “thắng lợi rất to lớn của cuộc kháng chiến oanh liệt nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam”. Thắng lợi đó là sự kết tinh của quá trình đấu tranh đầy cam go, thử thách của nhân dân ta và các lực lượng vũ trang trên cả 3 mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao và chủ trương sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta “vừa đánh vừa đàm” trong những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Hội nghị Paris là một cuộc đấu trí, đấu mưu, đấu lực, đấu pháp hết sức gay go giữa ta và Mỹ trên nhiều phương diện. Lực lượng Công an nhân dân Việt Nam đã đóng góp một phần quan trọng vào thắng lợi đó. Nhờ nắm chắc tình hình, luôn cảnh giác cao độ, vận dụng sáng tạo các biện pháp nghiệp vụ, đồng thời biết tranh thủ sự đồng tình ủng hộ, giúp đỡ của các lực lượng tiến bộ Pháp và kiều bào cho nên công tác đảm bảo an ninh và bảo vệ phái đoàn đàm phán đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của Hội nghị Paris.

Để phục vụ mặt trận đấu tranh ngoại giao, ngay từ phiên họp đầu tiên của Hội nghị, ngày 13-5-1968, Bộ trưởng Bộ Công an Trần Quốc Hoàn đã cử một số cán bộ, chiến sĩ có trình độ và kinh nghiệm làm công tác an ninh và bảo vệ phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà hoạt động tại Hội nghị và sau đó hơn 40 lượt cán bộ chiến sĩ công an được cử tới Paris để làm công tác bảo vệ an ninh và cảnh vệ cho cả hai phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam tham dự Hội nghị. Với phương châm: Công tác an ninh phải đảm bảo tuyệt đối an toàn, dựa vào sức mình là chính, đồng thời làm tốt công tác ngoại giao vận động kiều bào, lực lượng Công an đã thực hiện tốt công tác đảm bảo an ninh cho cả hai đoàn tại nơi ở, nơi làm việc, hội họp, đảm bảo an toàn tuyệt đối về người cũng như các tài liệu bí mật quốc gia liên quan đến đàm phán; bảo vệ an toàn những chuyến đi lại từ Hà Nội đến Paris và ngược lại của các đồng chí Cố vấn Lê Đức Thọ, Bộ trưởng Nguyễn Duy Trinh, Xuân Thuỷ và nhiều cuộc đi thăm các nước của bà Nguyễn Thị Bình – đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam v.v…

Thông qua công tác xây dựng cơ sở trong các tổ chức Việt kiều yêu nước, qua công tác trinh sát, tình báo, ta nắm được danh sách phái đoàn và ý đồ của Mỹ đến đàm phán tại Hội nghị Paris. Những tin tức đó được kịp thời báo cáo với lãnh đạo Đảng để có chủ trương, biện pháp chỉ đạo đấu tranh trên bàn Hội nghị. Trong quá trình diễn ra Hội nghị, lực lượng bảo vệ đã thường xuyên nêu cao cảnh giác, giữ vững kỷ luật, tham mưu cho lãnh đạo, hướng dẫn cho các thành viên trong đoàn đảm bảo cho hoạt động của đoàn tuân thủ nghiêm ngặt những nội quy, quy định về quan hệ, đi lại, tiếp xúc, giữ nghiêm kỷ luật phát ngôn, các quy định về bảo vệ cơ quan phái đoàn, bảo vệ tài liệu, giữ gìn bí mật về chủ trương, đường lối của Đảng. Trong hoạt động nghiệp vụ, lực lượng an ninh đã chủ động bố trí những buồng BHP (“buồng hạnh phúc”), BBM (buồng bí mật), thậm chí nhiều vấn đề không được trao đổi bằng miệng mà phải viết ra giấy, khi cần thiết phải trao đổi ngoài sân hoặc trong vườn khuôn viên biệt thự… Vì vậy, mọi thông tin hoạt động đàm phán của phái đoàn ta, các bí mật tin tức, biện pháp đấu tranh ngoại giao của Đảng và Chính phủ đều giữ được bí mật đến phút cuối cùng, khiến cho địch luôn bị bất ngờ, đối phó bị động.

Ở những địa điểm phái đoàn ta hội họp, nơi làm việc, nghỉ ngơi, lực lượng Công an Việt Nam đều phối hợp với lực lượng Cảnh sát, An ninh và các lực lượng tiến bộ của nước Cộng hòa Pháp lập kế hoạch bảo vệ tuyệt đối an toàn cả trên đường di chuyển và ở nơi làm việc. Đặc biệt, tổ Tình báo F68 đã có những thành tích xuất sắc trong việc bảo vệ an toàn phái đoàn ta tại Hội nghị. Bằng trí tuệ sắc sảo, sự nhạy cảm, khôn khéo, thông qua công tác trinh sát kỹ thuật nghiệp vụ, lực lượng công an đã phát hiện và vô hiệu hóa các phương tiện kỹ thuật nghe, chụp ảnh trộm của đối phương. Khi Hiệp định Paris chuẩn bị được ký kết, qua công tác tình báo, lực lượng công an nắm được âm mưu của Mỹ muốn thay đổi một số nội dung trong dự thảo Hiệp định. Những tin tức trên đã được kịp thời báo cáo với lãnh đạo Đảng để có chủ trương và biện pháp đấu tranh buộc Mỹ phải chấp nhận những điều khoản đã thỏa thuận tại Hội nghị. Tuy số lượng cán bộ, chiến sĩ làm công tác bảo vệ Hội nghị không nhiều, nhưng do biết dựa vào tập thể, tranh thủ được sự đồng tình và giúp đỡ của Chính phủ và các lực lượng tiến bộ Pháp, đồng thời biết phát huy tác dụng các biện pháp nghiệp vụ nên lực lượng Công an Việt Nam đã hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, góp phần buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27-1-1973.

Hội nghị Paris về Việt Nam kết thúc đã 40 năm và đã để lại những bài học vô cùng quý giá. Những bài họcđó vẫn còn giữ nguyên giá trị thời sự và thiết thực đối với lực lượng Công an nhân dân trong tình hình thế giới đầy biến động và phức tạp hiện nay. Kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam (27-1-1973 – 27-1-2013), lực lượng Công an nhân dân tự hào, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường đi tới của dân tộc, quyết tâm phát huy tinh thần và bài học của Hội nghị Paris trong công tác, chiến đấu, xây dựng lực lượng, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc; ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, không để bị động bất ngờ và chủ động hội nhập quốc tế nhằm xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

Đại tá, PGS. TS Nguyễn Bình Ban (Viện Lịch sử Công an, Bộ Công an)
cpv.org.vn

Đi tìm sự thật về Nhà thờ của gia đình Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng

Sứ mệnh cao cả của nhà báo là kiếm tìm sự thật. Sự thật ấy phải được phản ánh đạt tính chân thật, tức là “đúng hiện thực khách quan”. Và sự thật ấy phải được soi dọi bằng lương tâm chức nghiệp. Tôi nhớ người Nga có một câu ngạn ngữ vô cùng chí lí: “Một nửa cái bánh mỳ vẫn là bánh mỳ, nhưng một nửa sự thật đã là sự giả dối!”. Đây là bài viết của tác giả Ngọc Niên đăng trên Báo Nhà Báo & Công Luận.

Công luận loan truyền…

Xung quanh thông tin đương kim Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng xây dựng ngôi “Nhà thờ Họ” nguy nga ở Kiên Giang, suốt lâu nay đã được loan truyền râm ran và trở thành một đề tài nóng thu hút sự quan tâm của công luận. Nguồn tin khởi đầu được tung ra bởi một số mạng thông tin không chính thống. Rồi tiếp tục xuất hiện cả một số đơn thư được lan truyền đã len lỏi tới đông đảo công chúng; càng khiến dư luận không ngớt xì xầm, bàn tán.

Theo các thông tin được mô tả thì: Ngôi nhà thờ này là một lâu đài đồ sộ, sang trọng gấp nhiều lần Nhà Thờ họ Hồ ở Nghệ An; nguy nga hơn cả Đền thờ vị Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực; được tọa lạc trên khuôn viên rộng tới hơn 4.000m2 với quy mô rất hoành tráng, số tiền đầu tư xây dựng trị giá tới hơn 40 tỉ đồng. Đặc biệt, khuôn viên hơn 4.000m2 này là đất thu hồi của người dân địa phương. “Nhà thờ Họ” này đã và đang trở thành “Bia miệng” trong dân chúng Việt Nam…

Sức nóng của dư luận đã khiến không ít cán bộ lão thành cách mạng phẫn nộ, dân chúng hoài nghi và có người đã phải thốt lên rằng: “Ai đời đương kim Thủ Tướng mà lại làm cái việc xa hoa đến thế!” Nhà báo vốn có đặc tính là luôn “săm soi” các nguồn tin nên tôi đã được chứng kiến không ít cuộc luận bàn xung quanh câu chuyện “Nhà thờ Họ” của đương kim Thủ tướng. Bản thân tôi đã có lúc thấy rất hoài nghi và thiếu tin cậy về những thông tin loan truyền ấy. Có một số người cũng nói với tôi rằng đó chỉ là sự đồn thổi, bịa đặt: “Làm gì có lâu đài, biệt điện nào! Chẳng qua chỉ là chuyện thêu dệt nhằm bôi đen lãnh đạo, gây mâu thuẫn trong nội bộ Đảng và kích động lòng dân…”

Nhưng sự hoài nghi trong tôi lại lập tức bị tan biến bởi có không ít lời khẳng định như đinh đóng cột với tôi rằng họ đã trực tiếp mắt thấy tai nghe: “Không tin ông cứ đến TP Rạch Giá, gặp bất cứ ai, từ anh xe ôm cũng đều đàm tiếu vanh vách!”

Là người cầm bút, trước một sự việc tuy đang rất “bán tín bán nghi” – nhưng quả thực nó tác động mạnh đến dư luận xã hội, đến tâm trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân là điều có thật – đã thực sự làm tôi trăn trở. Và chính vì điều đó đã thôi thúc khiến tôi quyết định phải thực hiện một cuộc hành trình để kiếm tìm sự thật!? Vào đầu tháng 12 năm 2012, nhân có chuyến vào TP Hồ Chí Minh công tác tôi đã quyết định “phi” xuống Kiên Giang để đích thân “mục sở thị” xem hư thực ra sao!?

… sự thật ra sao?

Cách đây hơn 20 năm tôi đã có dịp về Kiên Giang công tác – lúc đó tôi đang là phóng viên Báo Quân đội Nhân dân. (Khi ấy Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đang là Chủ tịch Tỉnh. Đồng chí Thiếu tá Quỳnh – Trợ lý Tuyên huấn Tỉnh đội – đã bố trí cho tôi phỏng vấn Chủ tịch Tỉnh về công tác quân sự địa phương và việc thực hiện chính sách hậu phương quân đội. Và cũng suốt từ ấy đến nay tôi không có một cuộc tiếp kiến nào khác với ông).

Hơn 20 năm sau trở lại Kiên Giang, tôi thấy nơi đây đã thay đổi quá nhiều. Rạch Giá thời đó còn là thị xã, ngày nay đã trở thành thành phố. Ngày ấy Rạch Giá chỉ có bến xe ôtô, bến tàu biển; bây giờ đã có cả sân bay. Từ bến xe đi về các ngả, lúc đó phương tiện chủ yếu là xe lôi và Honda ôm. Bây giờ ở bến nào cũng thấy taxi nườm nượp. Bất giác tôi bỗng thấy nao nao nhớ về ký ức xe lôi thời ấy. Ngắm nhìn đường phố sạch đẹp và thoáng đãng, tôi cảm nhận rõ một quang cảnh thật thanh bình.

Cùng đi với tôi là anh bạn thân ở Sài Gòn nhưng rất thông thạo Rạch Giá – Kiên Giang. Chúng tôi tìm đến số nhà 1108 đường Nguyễn Trung Trực một cách chẳng khó khăn gì. Đường Nguyễn Trung Trực trước đây chỉ là một con đường nhỏ nằm trong lòng Rạch Giá; bây giờ trở thành con phố đường đôi huyết mạch rộng rãi, phong quang. Đứng trước cổng số nhà 1108, quan sát toàn cảnh khuôn viên tôi thấy lòng đầy nghi hoặc. Có phải cái “lâu đài” đang lan truyền gây xôn xao dư luận ấy chính là đây? Không lẽ tôi đã có một sự lầm lẫn nào khác?…

Nhưng hoàn toàn không phải như sự ngờ vực của tôi. Số nhà 1108 này chính là địa chỉ ngôi nhà của người em trai út và thân mẫu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hiện đang sinh sống ở Kiên Giang – miền quê nơi ông sinh trưởng. Bước chân vào khuôn viên, đảo hết một vòng, mang thông tin loan truyền ra đối chiếu, tôi bỗng thấy sửng sốt…

Toàn bộ khuôn viên này theo con mắt ước tính của tôi chỉ cỡ năm sáu trăm mét vuông là “kịch đường tàu”, chứ không phải tọa lạc trên diện tích tới hơn 4.000 m2 như đồn thổi! Qua xác minh tôi được biết, vào khoảng những năm 1980, nơi đây vốn là một xưởng sản xuất nước mắm của tư nhân rất ô nhiễm. Con lộ khang trang nơi mặt tiền bây giờ, ngày ấy chỉ là một con đường xấu xí và nhỏ hẹp. Lúc bấy giờ, Thủ tướng ngày nay đang là Bí thư ở huyện Hà Tiên. Mẹ và em trai của Thủ tướng là Tư Thắng đã mua mảnh đất này với thời giá lúc đó “rẻ như bèo” và được cấp đầy đủ quyền sử dụng. Như thế là thông tin mảnh đất này là đất thu hồi từ đất ruộng của dân rồi qui hoạch… thật sự chỉ là sự thêu dệt!

Tiếp tục quan sát từ ngoài vào trong tôi thấy: Chiều dài mặt tiền của khuôn viên ước tính chỉ khoảng ba, bốn chục mét. Một bờ tường bao nơi mặt tiền cao trên dưới 3 mét, ốp vật liệu bình thường chứ không hề thấy một loại vật liệu quý nào. Phía ngoài tường bao là một rặng cau cao vút. Toàn bộ khuôn viên được chia dọc làm hai phần, từ đường nhìn vào thì bên tay trái là nhà ở, và bên phải là nhà thờ. Lối chính vào nhà là một cái cổng quá đơn sơ, lợp ngói thô. Một mảnh sân nho nhỏ ước chừng vài chục mét vuông không thấy có kiến trúc gì tạo dựng hay trang trí cảnh quan mang tính mĩ thuật. Căn nhà ở của gia đình được xây một trệt, một lầu, hết sức bình dị như trăm ngàn ngôi nhà khác trên khắp phố phường Việt Nam. Hoàn toàn không có một chút kiến trúc hay vật liệu gì quí giá theo hình mẫu, phong cách và dáng dấp của các loại biệt thự đương thời.

Cổng chính của ngôi nhà số 1108.

Bước chân vào phòng khách tại tầng trệt, đi qua phòng của mẫu thân Thủ tướng rồi xuống nhà bếp của gia đình tôi thấy thật sự ngỡ ngàng. Phòng khách chỉ rộng chừng ba chục mét vuông, chỉ có một bộ sa-lông gỗ rất mộc mạc. Tôi đã từng đến nhiều phòng khách đẹp lộng lẫy của không ít anh em bè bạn. Trước khi bước vào phòng khách này tôi cũng mường tượng như vậy. Nhưng quả là nhầm to! Phòng khách đơn sơ tới mức vượt xa trí tưởng tượng của tôi. Thân mẫu của Thủ tướng năm nay đã 87 tuổi hiện đang sống trong căn nhà này. Tôi không thể ngờ rằng căn phòng đang sinh sống của thân mẫu Thủ tướng lại đơn sơ, mộc mạc và bình dị đến mức thật khó tin!

Kề bên căn nhà ở là nhà Thờ của gia đình nằm chung trong một khuôn viên, có cổng riêng. Quan sát toàn cảnh nhà thờ tôi thấy: Đó là một ngôi nhà gồm 3 gian, 3 tầng mái truyền thống, tọa lạc cuối khuôn viên, được xây dựng trên cốt nền cao, gồm 9 bậc thềm, đá lát là loại đá xanh bình thường. Tôi sải bước đo chiều dài áng chừng chỉ 10m, chiều ngang sâu khoảng 5m. Nhẩm tính tổng diện tích ngôi nhà thờ chỉ vào khoảng 50m2. 3 gian trong nhà thờ, mỗi gian được đặt một ban thờ. Ban chính giữa là ban thờ gia tiên, trên cùng là thờ ảnh Bác, tiếp phía dưới là di ảnh phụ thân rồi đến di ảnh người chị của Thủ tướng. Thân phụ của Thủ tướng là ông Nguyễn Tấn Thử (tức Mười Minh), chính trị viên Tỉnh đội Kiên Giang, hi sinh trong một trận Mỹ ném bom B52 vào ngày 16/4/1969.

Ban thờ phía bên phải là Ban thờ Má chiến sĩ – tức Má Tư cùng 3 chiến sĩ cũng hi sinh trong trận bom ngày 16/4/1969 với ông Nguyễn Tấn Thử. Ban thờ phía bên trái là Ban thờ ông Phan Thái Quí (tức Chín Quí), Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Kiên Giang – đồng đội của thân phụ Thủ tướng – cũng hi sinh trong trận bom ngày 16/4/1969. Quan sát kĩ thêm tôi thấy: Ban chính phía trên nóc có một chùm đèn và dưới là một chiếc sập gỗ cũng quá đơn sơ mộc mạc. Hai bên phía hồi nhà thờ ngay lối cửa ra vào là 2 lọ lục bình lớn nom y hệt bằng đồng nhưng kỳ thực chỉ là 2 bình đất nung, sản vật của Vĩnh Long. Toàn bộ hệ thống cửa chính hoàn toàn là gỗ mộc, đã hư hỏng, xuống cấp.

Quan sát hết lượt từ ngoài vào trong, từ trong ra ngoài tôi chẳng thấy có một vật dụng gì được cho là quí giá! Còn ở ngoài khuôn viên phía trước nhà thờ chỉ thấy toàn là cây cau, xoài, mít và vài cây đại nhỏ, không hề có một cây cảnh đắt tiền hay quí hiếm nào cả. Qua kiểm chứng, ngôi nhà thờ này được anh em trong gia đình Thủ tướng xây dựng vào khoảng năm 2000.

Như vậy là đích thân tôi đã “tai nghe, mắt thấy, tay sờ” và hoàn toàn không hề thấy có “lâu đài xa hoa” nào như dư luận loan truyền, đồn thổi! Đến đây thì bạn đọc đã hiểu đầy đủ rằng câu chuyện về “Nhà thờ Họ của Thủ tướng” tất cả chỉ là sự thêu dệt mà thôi! Và từ sự thêu dệt ấy đã được thổi phồng thành sự thật! Sau khi đã tìm hiểu rõ ngọn ngành, tôi thầm nghĩ, sự thật hiển nhiên đến như thế mà được tạo dựng thành chuyện “như có thật” thì có lẽ những thông tin thị phi khác về Thủ tướng và gia đình bấy lâu loan truyền trong công luận chỉ là xuyên tạc!

Trong khoảng thời gian ở Kiên Giang tôi cũng đã đến thăm và thắp hương ở Đình thờ vị Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực. Đến đây tôi mới sáng tỏ rằng việc đồn thổi “Nhà Thờ họ” của Thủ Tướng “nguy nga gấp nhiều lần Đình Thờ vị Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực” sự thật chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng và hư cấu!. Tôi được biết, mới rồi nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã vào tận đây và cũng đã phải thốt lên rằng “Hóa ra tất cả chỉ là sự thêu dệt!”

Sự thật nói lên điều gì?

Sau khi đã thực hiện xong cuộc thị sát tường tận, tôi rời Rạch Giá về Sài Gòn trên một chuyến xe khách tốc hành. Định bụng lên xe là “đánh” một giấc nhưng tiếc thay vớ phải chiếc vé nằm tầng 2, lại ở phía cuối xe nên cứ bị lay lắc như đánh võng. Suốt 6 tiếng đồng hồ trong cuộc hành trình không hề chợp mắt, tâm trí tôi cứ miên man suy nghĩ…

Trước khi thực hiện cuộc hành trình tìm kiếm sự thật, một anh bạn rất thân đã gay gắt phê phán tôi rằng: “Bao nhiêu việc lớn sao không quan tâm vào cuộc, hà cớ gì mà phải mất thời giờ cho một việc nhỏ nhoi như thế!” Nhưng lương tâm chức nghiệp đã mách bảo tôi rằng: “Việc tuy nhỏ nhưng nếu không minh bạch ắt đủ khiến lòng người ly tán! Họa lớn âu cũng khởi nguồn từ những đốm lửa nhỏ! Bởi vậy, sự việc dẫu nhỏ hay lớn cũng đều cần tới sự quang minh!” Nói tới chuyện nhà thờ – Thờ Tự – tức là nói tới việc tâm linh. Phàm đã là việc tâm linh thì không thể nói không thành có hoặc nói có thành không được. Câu chuyện về “Nhà thờ Họ” của Thủ tướng đang được công luận loan truyền đã thực sự gây hoài nghi, bức xúc trong dư luận, vì thế rất cần được kiểm chứng, phân minh.

Tôi đã được trực tiếp chứng kiến sự thật! Và sự thật ấy đã khiến tôi phải ngỡ ngàng bởi nó hoàn toàn trái ngược với những thông tin được loan truyền trong đời sống dư luận suốt bấy lâu nay. Sự thật ấy đã nói lên điều gì và đã tác động ra sao trong đời sống xã hội? Không còn nghi ngờ gì nữa, xuất phát từ những thông tin xấu độc được bịa đặt, từ đồn đại đã được thêu dệt và thổi phồng tạo thành một “sự thật giả dối”! Trong mỗi chúng ta ai cũng đều nhận diện được chân lý nhưng không phải tất cả đều tỉnh táo.

Cái “sự thật giả dối” ấy đã thực sự gây xúc động trong tâm lý xã hội, tạo sự hoài nghi trong công chúng, gieo giắc sự bất an trong đời sống… Hơn thế nữa, cái “sự thật giả dối” ấy đã bóp méo hình ảnh của người đứng đầu Chính phủ, gây nghi kỵ, phân hóa, chia rẽ, mất đoàn kết trong nội bộ Đảng và khiến lòng tin của nhân dân bị hao tổn. Nguy hiểm hơn nữa đó là, từ sự giảm sút niềm tin vào người lãnh đạo đất nước tới việc đánh mất niềm tin vào chế độ, ranh giới chỉ là “trong gang tấc”. Và càng trở nên nguy hiểm bởi trong khi đất nước đang cần trên dưới một lòng thì lại “mắc ngay vào bẫy” của các thế lực thù địch một cách vô cùng ấu trĩ…

Tôi vừa đọc một bài báo mới đây của nhà báo lão thành Hữu Thọ. Ông viết rằng: “Chiến đấu cho thông tin sự thật và nhanh chóng công bố thông tin là cuộc chiến đấu sinh tử trong cuộc cạnh tranh thông tin ngày càng gay gắt hiện nay. Thông tin sai là thua mà thông tin chậm, cũng là thua!” Và “…Không chỉ nói sự thật mà phải tới sự “chân thật” – tức là sự thật phải được phản ánh “đúng hiện thực khách quan” – chân thật tức là bản chất của sự thật! Ông kết luận: “Thông tin sai sự thật có nhiều loại, có số ít do bịa đặt, thêm bớt là sai phạm nặng nề nhất về mặt đạo đức của người làm báo… Có trường hợp thông tin “sai sự thật” do suy diễn chủ quan dẫn đến sự thật bị thổi phồng, bóp méo cũng không còn là sự thật như nó vốn có, gây hiểu lầm tai hại trong xã hội” (theo Tạp chí Tuyên Giáo số tháng 12/2012)…

Trước lúc trở về TP Hồ Chí Minh tôi đã đến thắp nhang ở Nghĩa trang liệt sĩ Kiên Giang. Mộ các liệt sĩ hàng hàng, lớp lớp quần tụ uy nghi. Người quản trang đã đưa tôi đến thắp hương trên mộ phần của thân phụ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Mộ của thân phụ Thủ tướng nằm đây, hết sức khiêm nhường hòa lẫn cùng hàng cùng lối với các liệt sĩ đang an giấc ngàn thu. Người quản trang kể với tôi rằng: Đã không ít lần lãnh đạo các khóa của tỉnh Kiên Giang có nguyện vọng muốn di dời mộ phần của Thân phụ Thủ tướng vào khu an táng các quan chức lãnh đạo được qui hoạch ở một khu riêng gần đó, trước hết là để tỏ lòng thành kính; sau nữa là được khang trang hơn.

Song cứ mỗi lần nhắc đến, Thủ tướng đều nhất quyết một mực rằng: “Bố tôi sống, chiến đấu cùng đồng đội, nay hãy cứ để yên cho ông được an nghỉ bên đồng đội của ông!” Giây phút đứng đây – tại Nghĩa trang liệt sĩ này – tôi chợt nhớ tới lời hứa của Thủ tướng trên diễn đàn Quốc hội mới rồi: “… Chính phủ, Thủ tướng và từng thành viên sẽ nghiêm túc với mình, đoàn kết, hết lòng làm việc… tất cả vì Tổ quốc, Nhân dân, vì Đảng, chế độ, vì sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước…”. Điều đó đã gieo vào tôi một niềm tin vững chãi, cũng như sự kỳ vọng của các tầng lớp nhân dân rằng: Sứ mệnh của Thủ tướng không có gì cao cả hơn ngoài việc một lòng một dạ phụng sự dân tộc và dốc lòng dốc sức tận tụy vì sự bình an của xã tắc sơn hà – tức chế độ này!

Theo Ngọc Niên / Nhà Báo & Công Luận
cand.com.vn

40 năm sau, nhìn lại một chiến công

PGS. TS Vũ Duy Thông
Mỗi lần nhắc đến trận “Điện Biên phủ trên không” hay rất nhiều chiến thắng khác, tôi vẫn cứ ngạc nhiên rằng sao những bài học nhãn tiền ấy không đủ thức tỉnh những kẻ còn ôm mộng xâm lược, bành chướng. Đâu chỉ tiền nhiều, người đông, vũ khí mạnh là thắng. Chiến thắng B.52 40 năm trước, chiến thắng Điện Biên phủ 58 năm trước, chiến tháng Ngọc Hồi – Đống Đa 223 năm trước… và rất nhiều mốc son khác trong lịch sử đã chứng minh điều đó.

Những ngày đó, cả thế giới kể cả những người Mỹ yêu chuộng hòa bình, yêu chuộng lẽ phải nín thở. Cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B.52 vào Hà Nội, Thủ đô của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, con bài cuối cùng của Mỹ đã diễn ra. Tiến hành cuộc tập kích Hà Nội bằng con chủ bài B.52, chính phủ Mỹ lúc đó muốn gì? Muốn nhân dân Hà Nội và cả nhân dân Việt Nam sẽ hoảng sợ, sẽ nổi loạn, sẽ ép Chính phủ Việt Nam phải ký hiệp định Pari với những điều khoản có lợi cho Mỹ, để nước Mỹ có thể rút chân ra khỏi cuộc chiến trong danh dự.

Trong mọi dự báo chiến tranh, yếu tố đầu tiên làm căn cứ cho mọi nhận định là tiềm lực của mỗi bên. Phía Mỹ, bước vào cuộc đọ sức chiến lược, họ có gì? Trước hết Mỹ đã chuẩn bị kỹ lưỡng về mặt ngoại giao, quân sự và nhiều mặt khác. Thứ hai nhưng lại quan trọng nhất là ưu thế về lực lượng không quân chiến lược với hàng loạt máy bay cường kích, tiêm kích, không người lái, tàng hình hiện đại, nhiều loại đến nay còn chưa lạc hậu. Hạt nhân của các hung thần trên không ấy là siêu pháo đài bay B.52 đã được bố trí dày đặc trên các sân bay chiến lược bao quanh Việt Nam. B.52 là loại máy bay hiện đại nhất của Mỹ, tích hợp hầu hết các thành tựu kỹ thuật quân sự của Mỹ lúc bấy giờ. Mỗi chiếc B.52 có sức chở 30 tấn bom, tương đương với 108 quả 500 pound (227kg), chỉ trong một lần dàn đội hình oanh tạc có thể tạo ra một bãi bom rộng 400 mét, dài 1.000 mét. Máy bay B.52 có thể chống được hầu hết các loại máy bay MIC 17, MIC 21 và nhiều loại vũ khí do Liên Xô sản xuất lúc ấy trong đó có tên lửa SAM-2 mà quân đội Việt Nam được trang bị. Để tiến hành chiến dịch này, Mỹ huy động một nửa số máy bay chiến lược B.52 hiện có (197/400 chiếc) và 1.077 máy bay các loại từ 3 căn cứ không quân và 6 tàu sân bay. Ngoài ra, Mỹ còn có hàng trăm tàu chiến các loại bố trí ở ngoài khơi Việt Nam. Về phía Việt Nam, họ có gì? Khoảng gần 1.000 quả đạn SAM-2 trong đó có 300 quả đạn phải phục hồi để dùng lại và hệ thống ra đa phòng không đã khá lạc hậu, nhiều giàn bị hư hỏng. Cả hai loại khí tài này, Mỹ đã biết tường tận về tính năng kỹ thuật và đã có khí tài chống lại. Với sức mạnh quân sự nghiêng hẳn về phía Mỹ như thế, Việt Nam khó lòng đứng vững, mà Việt Nam không đứng vững, hàng trăm triệu người yêu chuộng hòa bình, ủng hộ Việt Nam trên thế giới sẽ thua. Nếu họ thua, chính quyền hiếu chiến của Mỹ thắng, bản đồ chính trị thế giới sẽ khác.

Nhưng dù có tính toán chi ly đến đâu, chính phủ Mỹ lúc đó vẫn bị bất ngờ. Bất ngờ vì đánh giá quá thấp đối phương. Vì quá tự tin vào ưu thế quân sự của mình. Và sau cùng, điều này tuy không thể hiện thường xuyên trong các báo cáo quân sự tối mật nhưng lại mang ý nghĩ quyết định, vì cuộc chiến tranh Việt Nam của Mỹ là cuộc chiến tranh phi nghĩa, bị nhân dân Việt Nam, nhân dân Mỹ và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới phản đối. Thua vì Mỹ đi xâm lược một đất nước xa nước Mỹ hàng vạn cây số, không ảnh hưởng gì đến nước Mỹ. Dân tộc ấy lại có truyền thống ngàn đời “Không có gì quí hơn độc lập tự do”.

Hà Nội đông dân. Hà Nội thiếu thốn, nghèo khổ trăm bề nhưng người Hà Nội có truyền thống yêu nước nồng nàn. Cần phải nói là, trước khi Tổng thống Mỹ đặt bút ký vào bản kế hoạch tấn công Hà Nội hàng tháng, một tài liệu tuyệt mật được gọi là cẩm nang đỏ “Cách đánh B.52 của bộ đội tên lửa” đã được phổ biến trong toàn quân. Trước đó hàng năm, đã có sự hợp tác khoa học tuyệt mật để cải tiến tính năng kỹ thuật của SAM-2 và nhất là hệ thống ra đa phá nhiễu giữa ta và các chuyên gia quân sự Xô viết. Khi B.52 cất cánh từ các sân bay quân sự cách ta 6 giờ bay, các chiến sĩ pháo cao xạ, tên lửa, ra đa, lái máy bay đã ngồi vào vị trí sẵn sàng chiến đấu cấp 1. Từ những tư liệu mới đây người ta mới biết chứng tỏ trận thắng B.52 trên bầu trời Hà Nội năm đó không phải là trận thắng hú họa, trận thắng ăn may. Đó là kết quả của rất nhiều năm nghiên cứu kẻ địch, nghiên cứu cách đánh, khổ luyện lập công của hàng nghìn con người, hình thành một thế trận giăng sẵn, đưa giặc vào thế chắc thua. Nhưng quan trọng không kém, đó là trước những âm mưu tàn độc của giặc xâm lược, Hà Nội và cả nước đã sẵn sàng. Chỉ trong một đêm, hơn nửa triệu người Hà Nội đã sơ tán, hàng vạn người khác lên các vị trí chiến đấu bằng tất cả những vũ khí có trong tay. Hà Nội vẫn sáng đèn. Các điểm vui chơi vẫn mở cửa. Đài phát thanh vẫn phát nhạc. Nhiều hoạt động đón Tết vẫn diễn ra, Nhưng Hà Nội từ đêm 17/12/1972 đã trở thành thiên la địa võng, thành lưới lửa của lòng căm thù, thành tượng đài “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” trong thời cả nước chống Mỹ.

Và cái gì phải đến đã đến.

Trong cơn giãy giụa điên cuồng và tuyệt vọng Lầu Năm góc cay cú trút bom xuống Khâm Thiên, Bệnh viện Bạch Mai… và nhiều thành phố khác. Trong số 100.000 tấn bom ném xuống Việt Nam trong chiến dịch này, Mỹ đã rải xuống Hà Nội trên 40.000 tấn. 1,318 người Hà Nội đã chết, hơn nghìn người khác bị thương, 2.000 ngôi nhà bị tàn phá. Riêng khu phố Khâm Thiên, 278 người bị giết (40 cụ già, 55 em nhỏ, 91 phụ nữ). Ở Bệnh viện Bạch Mai, nhiều bệnh nhân và bác sĩ chết bên nhau trong phòng cấp cứu. Đau thương ngất trời, Căm thù ngất trời. Và Hà Nội cùng cả nước đã cất tiếng trả lời. Cùng với tên lửa, bộ đội phòng không và nhân dân Hà Nội, Hải Phòng đã trút vào đầu giặc 2.036 viên đạn pháo 100mm, 15.669 viên đạn pháo 57mm, 19.454 viên đạn pháo 37mm, 1.147 viên đạn 14,5mm chiếm 66% kho đạn của 2 thành phố và hàng vạn viên đạn súng bộ binh khác. Lưới lửa mặt đất này, tuy không với tới được B.52 nhưng đã khiến đội hình của địch rối loạn để máy bay, tên lửa tiếp cận, bắn rụng B.52. Trong 12 ngày đêm chiến đấu gan dạ, dũng cảm đó, quân và dân ta đã bắn rơi 81 máy bay trong đó có 34 máy bay B.52 các loại, 16 chiếc rơi tại chỗ, giết và bắt sống nhiều giặc lái. Trong những máy bay B.52 bị bắn rơi tại chỗ, có chiếc đã rơi xuống ao làng Hữu Tiệp, ngẫu nhiên làm đẹp thêm truyền thống hoa Ngọc Hà của Hà Nội.

Thoắt đấy, trận thắng lịch sử đã lùi xa 40 năm. Quan hệ Việt – Mỹ đã khác trước. Nhiều phi công B.52 bị bắn rơi và bị bắt sống trên bầu trời Hà Nội giờ đã trở thành những chính trị gia có thế lực, góp tiếng nói quan trọng nhằm thúc đẩy bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Nhiều cựu chiến binh Mỹ đã làm những việc thiết thực, giàu tình nghĩa để hàn gắn vết thương một thời.

Nhắc đến trận “Điện Biên phủ trên không” vào dịp này, so với 40 năm trước đây, cũng có cái giống và cũng có cái khác. Giống là chỗ đó là dịp để thêm một lần khẳng định sức mạnh của dân tộc, truyền thống đánh giặc hào hùng và niềm tin vào chiến thắng. Khác là không phải để khoét sâu hơn nữa lòng thù hận mà để cùng nhau rút ra những kinh nghiệm lịch sử, tránh lặp lại những bài học đau xót trong tương lai cùng sánh bước lâu dài trên con đường hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.

Người Việt Nam luôn lấy tình nghĩa làm trọng, mọi căm thù đều có thể được tha thứ, được gác lại một bên, chỉ tình nghĩa, sự thông cảm, đồng cảm là bền vững. Căm thù nào bằng lòng căm thù trước những tội ác chồng chất của thực dân Pháp, của đế quốc Mỹ với nhân dân ta mấy chục năm qua cũng như những thế kỷ đồng hóa, diệt chủng trước đó. Nhưng nhân dân ta chưa bao giờ lẫn lộn giữa kẻ xâm lược và nhân dân những nước đó và sẵn sàng tha thứ, ngay với kẻ xâm lược, nếu chúng hối hận, từ bỏ mưu đồ cũ. Có thể thấy tinh thần ấy trong những câu nói của một số nhà lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, những người từng đóng vai trò chủ chốt trong các cuộc chiến tranh ở Việt Nam trong thế kỷ XX. Đó là Hồ Chí Minh trong thư gửi một người mẹ Pháp năm 1946, trên chiếc tàu từ Pháp trở về sau cuộc hòa đàm vãn hồi hòa bình thất bại và trước thềm cuộc chiến tranh với chính phủ Pháp hồi đó: “Phải chấm dứt cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn này. Đối với tôi, sinh mệnh của một người Pháp hay sinh mệnh của một người Việt Nam đều đáng quí như nhau”. Đó là Lê Duẩn trong lá thư gửi Trung ương Cục miền Nam, viết năm 1972: “Tất cả những ai thấy được tội lỗi, đoạn tuyệt với quá khứ, quay về với đường ngay lẽ phải, đều có chỗ đứng trong lòng dân tộc. Chính sách của chúng ta là lấy nhân nghĩa để cảm hóa, lấy khoan hồng để đối xử, tuyệt đối không báo oán, trả thù”. Đó là Thủ tướng Võ Văn Kiệt: “Nếu chỉ dùng đối đầu và bạo lực để giải quyết những thù hận thì chỉ đẻ ra thù hận. Nếu dùng cách cảm hóa để giải quyết thù hận thì có thể triệt tiêu được thù hận và tạo ra được sức mạnh ngày càng dồi dào hơn. Nếu cứ còn chia rẽ do thù hận vì bại, kiêu vì thắng thì có ích gì…”. Hoặc chỉ cần xem một chương trình bóng đá có đội Pháp tham dự hay xem một chương trình thời sự trên truyền hình có hình ảnh các cựu binh Mỹ thì sẽ rõ. Tiếc rằng những tư tưởng nhân ái ấy, thái độ cư xử hòa bình ấy ngay đến hiện nay vẫn bị một số người cố tình xuyên tạc, che khuất.

Và mỗi lần nhắc đến trận “Điện Biên phủ trên không” hay rất nhiều chiến thắng khác, tôi vẫn cứ ngạc nhiên rằng sao những bài học nhãn tiền ấy không đủ thức tỉnh những kẻ còn ôm mộng xâm lược, bành chướng. Đâu chỉ tiền nhiều, người đông, vũ khí mạnh là thắng. Chiến thắng B.52 40 năm trước, chiến thắng Điện Biên phủ 58 năm trước, chiến tháng Ngọc Hồi – Đống Đa 223 năm trước… và rất nhiều mốc son khác trong lịch sử đã chứng minh điều đó

V.D.T.
cand.com.vn

Vinh quang những người lính Bộ đội Cụ Hồ hạ gục pháo đài bay B52

Hướng tới kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – điện biên phủ trên không”:

Khi Mỹ xâm lược Việt Nam và tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, chúng ta phải đương đầu trực tiếp với tên đế quốc mạnh nhất, thì ý chí quyết đánh và quyết thắng trở thành yếu tố quyết định để đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ.

>> Cầu truyền hình “Bản hùng ca Hà Nội”

Trong lịch sử chiến tranh giữ nước, dân tộc ta luôn phải chống lại kẻ thù xâm lược có nền kinh tế và quân sự phát triển cao hơn ta, cho nên vấn đề xây dựng ý chí quyết đánh, quyết thắng có vị trí đặc biệt quan trọng. Chỉ có quyết đánh, quyết thắng mới tạo nên sức mạnh đánh thắng địch.

Khi Mỹ xâm lược Việt Nam và tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, chúng ta phải đương đầu trực tiếp với tên đế quốc mạnh nhất, thì ý chí quyết đánh và quyết thắng trở thành yếu tố quyết định để đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ.

Xây dựng ý chí quyết đánh, quyết thắng B-52 cũng là yếu tố quyết định giành thắng lợi trong chiến dịch phòng không Hà Nội, Hải Phòng tháng 12/1972.

Ngày 12/4/1966, lần đầu tiên Mỹ cho B-52 đánh đèo Mụ Giạ – Quảng Bình rồi thường xuyên đánh phá Vĩnh Linh và chiến trường miền Nam. Bác Hồ đã trực tiếp giao cho Quân chủng Phòng không – Không quân (PK-KQ) nghiên cứu cách đánh B-52 và quyết tâm bắn rơi B-52 được đề ra từ đó.

Tháng 5/1966, Trung đoàn tên lửa 238 cơ động vào Vĩnh Linh nghiên cứu đánh B-52, tại đây, ngày 17/9/1967, đã bắn rơi chiếc B-52 đầu tiên. Và từ tháng 2/1968, Quân ủy Trung ương (QUTƯ) dự đoán Mỹ có thể dùng B-52 đánh vào Hà Nội, Hải Phòng và giao cho Quân chủng PK-KQ xây dựng kế hoạch tác chiến. Suốt thời gian sau đó nhiều đoàn cán bộ PK-KQ cùng một số trung đoàn tên lửa và biên đội không quân tiêm kích được đưa vào nghiên cứu cách đánh B-52 trên vùng trời Khu 4.

Đặc biệt tháng 4/1972, khi Mỹ cho B-52 đánh phá TP Vinh, TP Hải Phòng, thì ý chí quyết đánh và quyết thắng B-52 Mỹ trên bầu trời Hà Nội được thể hiện bằng một loạt việc triển khai công tác chuẩn bị. Đầu tiên phải nói đến Hội nghị chuyên đề đánh B-52 do Bộ Tổng tham mưu (BTTM) tổ chức ngày 6/7/1972 với sự tham gia của nhiều cơ quan, đơn vị.

Phải đánh trúng B-52, lời nói “chắc như đinh đóng cột” không chỉ của Tư lệnh Quân chủng PK-KQ mà là ý chí quyết tâm của cả Hội nghị. Tổng Tham mưu phó Phùng Thế Tài kết luận và chỉ thị cho các cơ quan, đơn vị đẩy mạnh nghiên cứu đánh B-52 bằng lực lượng, vũ khí hiện có của Quân chủng PK-KQ; đánh trúng, bắn rơi B-52 là nhiệm vụ cấp bách, là yêu cầu cao về quân sự, chính trị, ngoại giao; Quân chủng PK-KQ phải được chuẩn bị cho chiến thắng B-52.

Sau hội nghị, BTTM chỉ thị thực hiện gấp việc nghiên cứu và triển khai kế hoạch đánh B-52. Bộ Tư lệnh Quân chủng PK-KQ chủ trì biên soạn lý luận chiến thuật đánh B-52; Viện Kỹ thuật quân sự cử người tham gia; đồng thời Quân chủng PK-KQ nhanh chóng bổ sung ý kiến chỉ đạo để hoàn chỉnh kế hoạch và phương án tác chiến, kết hợp một cách hợp lý việc điều chỉnh bố trí lực lượng, biên soạn tài liệu huấn luyện và tiến hành tập huấn đánh B-52 trong các tình huống phức tạp

Bộ Tư lệnh Quân chủng chỉ thị cho cơ quan tham mưu cùng Bộ Tư lệnh các binh chủng khẩn trương hoàn chỉnh phương án đánh B-52 bảo vệ miền Bắc, chủ yếu là Hà Nội và Hải Phòng. Tổ nghiên cứu, biên soạn tài liệu “Cách đánh B-52″ được quân chủng gấp rút thành lập, làm việc không kể ngày đêm để sớm có tài liệu huấn luyện.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp nghe Tổng Tham mưu phó Phùng Thế Tài và các đồng chí trong Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân trình bày kế hoạch chống địch tập kích đường không bằng B-52 vào Hà Nội năm 1972.

Phương án đánh B-52 được nhanh chóng hoàn thành theo đúng kế hoạch. Các đơn vị tên lửa, rađa, pháo 100mm mở đợt huấn luyện đột kích nội dung và mục tiêu chủ yếu là đánh B-52. Bộ đội Không quân tích cực luyện tập theo phương án đánh B-52 trên năm hướng xung quanh Hà Nội. Phương án này được kết hợp chặt chẽ với hỏa lực của các binh chủng, cả vòng trong và vòng ngoài, kết hợp cơ động và yếu địa, tuyến trước và tuyến sau, trên không và mặt đất.

Tiếp tục nghiên cứu, tổng hợp quy luật hoạt động của không quân địch, xác minh tính năng kỹ chiến thuật của B-52 đối với các loại vũ khí của ta, BTTM giao cho Cục Tình báo chủ trì cùng Quân chủng PK-KQ, Viện Kỹ thuật quân sự khai thác thông tin từ giặc lái Mỹ; Cục Tình báo cung cấp kịp thời những tin tức, tư liệu liên quan đến B-52, phục vụ cho yêu cầu tác chiến của phòng không, không quân.

Đồng thời Quân chủng PK-KQ xúc tiến khẩn trương việc nghiên cứu cải tiến và sử dụng trang bị vũ khí, sử dụng rađa cũ kết hợp khí tài quang học với điện tử, điều chỉnh độ nhạy của đầu đạn tên lửa để có thể bắn rơi tại chỗ B-52. Cục Tình báo, Cục Quân lực, Bộ Tư lệnh Thông tin liên lạc cùng quân chủng giải quyết các vấn đề bảo đảm…

Tổng Tư lệnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp làm việc với Quân chủng, Tư lệnh các binh chủng Rađa, Tên lửa, Không quân, Sư đoàn trưởng Sư đoàn Phòng không Hà Nội xác định phương hướng tác chiến chiến dịch phòng không đánh B-52 bảo vệ Thủ đô.

Tháng 9/1972, BTTM chỉ đạo Bộ Tư lệnh Quân chủng PK-KQ bổ sung và hoàn thiện phương án mới đánh B-52; xác định những vấn đề cơ bản của nghệ thuật chiến dịch phòng không, phán đoán âm mưu, thủ đoạn, hướng và mục tiêu tiến công của địch, quyết định sử dụng lực lượng và cách đánh của ta; đồng thời chỉ đạo quân chủng khẩn trương xây dựng thế trận, điều chỉnh lực lượng, nhanh chóng hoàn thành mạng lưới phòng không ba thứ quân nhiều tầng, nhiều hướng, có trọng điểm vào hai khu vực Hà Nội và Hải Phòng.

Đầu tháng 10/1972, Đảng ủy Quân chủng PK-KQ ra nghị quyết tăng cường giáo dục cán bộ, chiến sĩ, quyết tâm bắn rơi nhiều máy bay Mỹ, kể cả B-52. Các binh chủng trong quân chủng mở hội nghị sơ kết rút kinh nghiệm xây dựng và chiến đấu 6 tháng đầu năm chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ; hội nghị chuyên đề bàn cách đánh B-52. Một số kinh nghiệm về chống nhiễu, phân biệt B-52 thật và giả trong tầm đánh, kết hợp đánh địch của lực lượng cơ động và tại chỗ được đúc kết làm cơ sở cho các binh chủng biên soạn tài liệu huấn luyện bộ đội.

Ngày 27/10/1972, Đảng ủy Quân chủng họp phiên bất thường, quán triệt tinh thần chỉ đạo của QUTƯ về tình hình nhiệm vụ mới và ra nghị quyết: “…kiên quyết bắn rơi B-52 tại chỗ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong mọi tình huống…”.

Đầu tháng 11, Quân chủng PK-KQ cử cán bộ và một số kíp chiến đấu vào Nghệ An cùng Trung đoàn tên lửa 263 đánh B-52 và đêm 22/11 đã diệt được B-52 Mỹ; kinh nghiệm của trung đoàn được phổ biến đến các đơn vị. Tài liệu “Cách đánh B-52″ được bổ sung những chi tiết quan trọng.

Tiếp đó, BTTM và Quân chủng PK-KQ thống nhất phán đoán đường bay, hướng tập kích của địch; cho Binh chủng Rađa bố trí ưu tiên hướng chủ yếu… Ngày 24/11/1972, Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng phê chuẩn kế hoạch và lệnh cho quân chủng hoàn thiện công tác chuẩn bị chiến đấu trước ngày 3/12/1972.

Ngày 27/11/1972, Bộ Tổng Tư lệnh ra lệnh cho các lực lượng vũ trang miền Bắc tăng cường các mặt chuẩn bị chiến đấu; Quân chủng PK-KQ tập trung mọi khả năng tiêu diệt bằng được B-52 Mỹ. Ngày 3/12/1972, Quân chủng PK-KQ báo cáo “Mọi mặt công tác chuẩn bị đánh B-52 xong, quyết tâm của quân chủng kiên quyết không để bị bất ngờ, đánh rơi tại chỗ máy bay địch, kể cả B-52”.

Cựu chiến binh Sư đoàn Phòng không 361 gặp mặt nhân kỷ niệm 40 năm “Điện Biên Phủ trên không”

Sáng 15/12 tại Hà Nội, Ban liên lạc cựu chiến binh Sư đoàn Phòng không 361 đã tổ chức họp mặt. Sư đoàn 361 thành lập ngày 19/5/1965 với nhiệm vụ bảo vệ bầu trời Hà Nội. Trong chiến dịch 12 ngày đêm (tháng 12/1972), sư đoàn là lực lượng phòng không chủ lực bảo vệ Hà Nội, bắn rơi nhiều máy bay của Mỹ (trong đó có máy bay B-52), góp phần làm nên chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”. Ngày 15/1/1976, sư đoàn đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Các đại biểu dự gặp mặt dâng hương tưởng nhớ các anh hùng, liệt sĩ.

Cuộc gặp mặt có sự tham dự của những nhân chứng lịch sử, như Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 57, Trung đoàn 261, nguyên Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân, là đơn vị lập thành tích xuất sắc trong trận quyết chiến chiến lược “Điện Biên Phủ trên không”. Ông Phiệt từng là vị tướng nổi tiếng, khi trực tiếp bắn và chỉ huy bắn được 19 máy bay địch, trong đó có 4 máy bay B-52, trong 12 ngày đêm cuối năm 1972.

Một nhân chứng khác là Thiếu tướng, Anh hùng LLVTND Phạm Ngọc Lan, người phi công đầu tiên tiêu diệt máy bay Mỹ trong một trận không chiến đầy kịch tính ngày 3/4/1965, cùng sự hiện diện của những nhân chứng lịch sử, những người đã góp mặt vào bảng vàng thành tích của Quân chủng Phòng không – Không quân trong trận “Điện Biên Phủ trên không” nói riêng và sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung.

Tại buổi gặp mặt, các cựu binh đã dâng hương tưởng nhớ 1.756 liệt sĩ của sư đoàn đã hy sinh trong sự nghiệp giải phóng đất nước và ôn lại truyền thống hào hùng của bộ đội phòng không không quân.

Duy Hiển
N.T.H. (Cán bộ nghiên cứu lịch sử Bộ Tổng tham mưu)
cand.com.vn

Xây dựng ý chí quyết đánh, quyết thắng B-52 Mỹ

Hướng tới kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – điện biên phủ trên không”:

Đại Tá, TS Nguyễn Thành Hữu

Khi Mỹ xâm lược Việt Nam và tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, chúng ta phải đương đầu trực tiếp với tên đế quốc mạnh nhất, thì ý chí quyết đánh và quyết thắng trở thành yếu tố quyết định để đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ.

>> Cầu truyền hình “Bản hùng ca Hà Nội”

Trong lịch sử chiến tranh giữ nước, dân tộc ta luôn phải chống lại kẻ thù xâm lược có nền kinh tế và quân sự phát triển cao hơn ta, cho nên vấn đề xây dựng ý chí quyết đánh, quyết thắng có vị trí đặc biệt quan trọng. Chỉ có quyết đánh, quyết thắng mới tạo nên sức mạnh đánh thắng địch.

Khi Mỹ xâm lược Việt Nam và tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, chúng ta phải đương đầu trực tiếp với tên đế quốc mạnh nhất, thì ý chí quyết đánh và quyết thắng trở thành yếu tố quyết định để đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ.

Xây dựng ý chí quyết đánh, quyết thắng B-52 cũng là yếu tố quyết định giành thắng lợi trong chiến dịch phòng không Hà Nội, Hải Phòng tháng 12/1972.

Ngày 12/4/1966, lần đầu tiên Mỹ cho B-52 đánh đèo Mụ Giạ – Quảng Bình rồi thường xuyên đánh phá Vĩnh Linh và chiến trường miền Nam. Bác Hồ đã trực tiếp giao cho Quân chủng Phòng không – Không quân (PK-KQ) nghiên cứu cách đánh B-52 và quyết tâm bắn rơi B-52 được đề ra từ đó.

Tháng 5/1966, Trung đoàn tên lửa 238 cơ động vào Vĩnh Linh nghiên cứu đánh B-52, tại đây, ngày 17/9/1967, đã bắn rơi chiếc B-52 đầu tiên. Và từ tháng 2/1968, Quân ủy Trung ương (QUTƯ) dự đoán Mỹ có thể dùng B-52 đánh vào Hà Nội, Hải Phòng và giao cho Quân chủng PK-KQ xây dựng kế hoạch tác chiến. Suốt thời gian sau đó nhiều đoàn cán bộ PK-KQ cùng một số trung đoàn tên lửa và biên đội không quân tiêm kích được đưa vào nghiên cứu cách đánh B-52 trên vùng trời Khu 4.

Đặc biệt tháng 4/1972, khi Mỹ cho B-52 đánh phá TP Vinh, TP Hải Phòng, thì ý chí quyết đánh và quyết thắng B-52 Mỹ trên bầu trời Hà Nội được thể hiện bằng một loạt việc triển khai công tác chuẩn bị. Đầu tiên phải nói đến Hội nghị chuyên đề đánh B-52 do Bộ Tổng tham mưu (BTTM) tổ chức ngày 6/7/1972 với sự tham gia của nhiều cơ quan, đơn vị.

Phải đánh trúng B-52, lời nói “chắc như đinh đóng cột” không chỉ của Tư lệnh Quân chủng PK-KQ mà là ý chí quyết tâm của cả Hội nghị. Tổng Tham mưu phó Phùng Thế Tài kết luận và chỉ thị cho các cơ quan, đơn vị đẩy mạnh nghiên cứu đánh B-52 bằng lực lượng, vũ khí hiện có của Quân chủng PK-KQ; đánh trúng, bắn rơi B-52 là nhiệm vụ cấp bách, là yêu cầu cao về quân sự, chính trị, ngoại giao; Quân chủng PK-KQ phải được chuẩn bị cho chiến thắng B-52.

Sau hội nghị, BTTM chỉ thị thực hiện gấp việc nghiên cứu và triển khai kế hoạch đánh B-52. Bộ Tư lệnh Quân chủng PK-KQ chủ trì biên soạn lý luận chiến thuật đánh B-52; Viện Kỹ thuật quân sự cử người tham gia; đồng thời Quân chủng PK-KQ nhanh chóng bổ sung ý kiến chỉ đạo để hoàn chỉnh kế hoạch và phương án tác chiến, kết hợp một cách hợp lý việc điều chỉnh bố trí lực lượng, biên soạn tài liệu huấn luyện và tiến hành tập huấn đánh B-52 trong các tình huống phức tạp

Bộ Tư lệnh Quân chủng chỉ thị cho cơ quan tham mưu cùng Bộ Tư lệnh các binh chủng khẩn trương hoàn chỉnh phương án đánh B-52 bảo vệ miền Bắc, chủ yếu là Hà Nội và Hải Phòng. Tổ nghiên cứu, biên soạn tài liệu “Cách đánh B-52″ được quân chủng gấp rút thành lập, làm việc không kể ngày đêm để sớm có tài liệu huấn luyện.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp nghe Tổng Tham mưu phó Phùng Thế Tài và các đồng chí trong Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân trình bày kế hoạch chống địch tập kích đường không bằng B-52 vào Hà Nội năm 1972.

Phương án đánh B-52 được nhanh chóng hoàn thành theo đúng kế hoạch. Các đơn vị tên lửa, rađa, pháo 100mm mở đợt huấn luyện đột kích nội dung và mục tiêu chủ yếu là đánh B-52. Bộ đội Không quân tích cực luyện tập theo phương án đánh B-52 trên năm hướng xung quanh Hà Nội. Phương án này được kết hợp chặt chẽ với hỏa lực của các binh chủng, cả vòng trong và vòng ngoài, kết hợp cơ động và yếu địa, tuyến trước và tuyến sau, trên không và mặt đất.

Tiếp tục nghiên cứu, tổng hợp quy luật hoạt động của không quân địch, xác minh tính năng kỹ chiến thuật của B-52 đối với các loại vũ khí của ta, BTTM giao cho Cục Tình báo chủ trì cùng Quân chủng PK-KQ, Viện Kỹ thuật quân sự khai thác thông tin từ giặc lái Mỹ; Cục Tình báo cung cấp kịp thời những tin tức, tư liệu liên quan đến B-52, phục vụ cho yêu cầu tác chiến của phòng không, không quân.

Đồng thời Quân chủng PK-KQ xúc tiến khẩn trương việc nghiên cứu cải tiến và sử dụng trang bị vũ khí, sử dụng rađa cũ kết hợp khí tài quang học với điện tử, điều chỉnh độ nhạy của đầu đạn tên lửa để có thể bắn rơi tại chỗ B-52. Cục Tình báo, Cục Quân lực, Bộ Tư lệnh Thông tin liên lạc cùng quân chủng giải quyết các vấn đề bảo đảm…

Tổng Tư lệnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp làm việc với Quân chủng, Tư lệnh các binh chủng Rađa, Tên lửa, Không quân, Sư đoàn trưởng Sư đoàn Phòng không Hà Nội xác định phương hướng tác chiến chiến dịch phòng không đánh B-52 bảo vệ Thủ đô.

Tháng 9/1972, BTTM chỉ đạo Bộ Tư lệnh Quân chủng PK-KQ bổ sung và hoàn thiện phương án mới đánh B-52; xác định những vấn đề cơ bản của nghệ thuật chiến dịch phòng không, phán đoán âm mưu, thủ đoạn, hướng và mục tiêu tiến công của địch, quyết định sử dụng lực lượng và cách đánh của ta; đồng thời chỉ đạo quân chủng khẩn trương xây dựng thế trận, điều chỉnh lực lượng, nhanh chóng hoàn thành mạng lưới phòng không ba thứ quân nhiều tầng, nhiều hướng, có trọng điểm vào hai khu vực Hà Nội và Hải Phòng.

Đầu tháng 10/1972, Đảng ủy Quân chủng PK-KQ ra nghị quyết tăng cường giáo dục cán bộ, chiến sĩ, quyết tâm bắn rơi nhiều máy bay Mỹ, kể cả B-52. Các binh chủng trong quân chủng mở hội nghị sơ kết rút kinh nghiệm xây dựng và chiến đấu 6 tháng đầu năm chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ; hội nghị chuyên đề bàn cách đánh B-52. Một số kinh nghiệm về chống nhiễu, phân biệt B-52 thật và giả trong tầm đánh, kết hợp đánh địch của lực lượng cơ động và tại chỗ được đúc kết làm cơ sở cho các binh chủng biên soạn tài liệu huấn luyện bộ đội.

Ngày 27/10/1972, Đảng ủy Quân chủng họp phiên bất thường, quán triệt tinh thần chỉ đạo của QUTƯ về tình hình nhiệm vụ mới và ra nghị quyết: “…kiên quyết bắn rơi B-52 tại chỗ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong mọi tình huống…”.

Đầu tháng 11, Quân chủng PK-KQ cử cán bộ và một số kíp chiến đấu vào Nghệ An cùng Trung đoàn tên lửa 263 đánh B-52 và đêm 22/11 đã diệt được B-52 Mỹ; kinh nghiệm của trung đoàn được phổ biến đến các đơn vị. Tài liệu “Cách đánh B-52″ được bổ sung những chi tiết quan trọng.

Tiếp đó, BTTM và Quân chủng PK-KQ thống nhất phán đoán đường bay, hướng tập kích của địch; cho Binh chủng Rađa bố trí ưu tiên hướng chủ yếu… Ngày 24/11/1972, Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng phê chuẩn kế hoạch và lệnh cho quân chủng hoàn thiện công tác chuẩn bị chiến đấu trước ngày 3/12/1972.

Ngày 27/11/1972, Bộ Tổng Tư lệnh ra lệnh cho các lực lượng vũ trang miền Bắc tăng cường các mặt chuẩn bị chiến đấu; Quân chủng PK-KQ tập trung mọi khả năng tiêu diệt bằng được B-52 Mỹ. Ngày 3/12/1972, Quân chủng PK-KQ báo cáo “Mọi mặt công tác chuẩn bị đánh B-52 xong, quyết tâm của quân chủng kiên quyết không để bị bất ngờ, đánh rơi tại chỗ máy bay địch, kể cả B-52”.

Cựu chiến binh Sư đoàn Phòng không 361 gặp mặt nhân kỷ niệm 40 năm “Điện Biên Phủ trên không”

Sáng 15/12 tại Hà Nội, Ban liên lạc cựu chiến binh Sư đoàn Phòng không 361 đã tổ chức họp mặt. Sư đoàn 361 thành lập ngày 19/5/1965 với nhiệm vụ bảo vệ bầu trời Hà Nội. Trong chiến dịch 12 ngày đêm (tháng 12/1972), sư đoàn là lực lượng phòng không chủ lực bảo vệ Hà Nội, bắn rơi nhiều máy bay của Mỹ (trong đó có máy bay B-52), góp phần làm nên chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”. Ngày 15/1/1976, sư đoàn đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Các đại biểu dự gặp mặt dâng hương tưởng nhớ các anh hùng, liệt sĩ.

Cuộc gặp mặt có sự tham dự của những nhân chứng lịch sử, như Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 57, Trung đoàn 261, nguyên Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân, là đơn vị lập thành tích xuất sắc trong trận quyết chiến chiến lược “Điện Biên Phủ trên không”. Ông Phiệt từng là vị tướng nổi tiếng, khi trực tiếp bắn và chỉ huy bắn được 19 máy bay địch, trong đó có 4 máy bay B-52, trong 12 ngày đêm cuối năm 1972.

Một nhân chứng khác là Thiếu tướng, Anh hùng LLVTND Phạm Ngọc Lan, người phi công đầu tiên tiêu diệt máy bay Mỹ trong một trận không chiến đầy kịch tính ngày 3/4/1965, cùng sự hiện diện của những nhân chứng lịch sử, những người đã góp mặt vào bảng vàng thành tích của Quân chủng Phòng không – Không quân trong trận “Điện Biên Phủ trên không” nói riêng và sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung.

Tại buổi gặp mặt, các cựu binh đã dâng hương tưởng nhớ 1.756 liệt sĩ của sư đoàn đã hy sinh trong sự nghiệp giải phóng đất nước và ôn lại truyền thống hào hùng của bộ đội phòng không không quân.

Duy Hiển


N.T.H. (Cán bộ nghiên cứu lịch sử Bộ Tổng tham mưu)
cand.com.vn

Cầu truyền hình “Bản hùng ca Hà Nội”

Nhân dịp kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, Đài PTTH Hà Nội, phối hợp với báo Quân đội nhân dân, Sư đoàn 361 tổ chức cầu truyền hình đặc biệt, với tên gọi “Bản hùng ca Hà Nội”. Chương trình diễn ra lúc 20h ngày 16/12/2012.

Đây là cầu truyền hình đặc biệt, mang ý nghĩa gắn kết tình quân – dân. Khán giả sẽ được gặp lại những khách mời là các anh hùng lực lượng vũ trang, những người trực tiếp sống và chiến đấu trong 12 ngày đêm đầy vinh quang của Thủ đô và đất nước như Đại tá, anh hùng lực lượng vũ trang Nguyễn Đình Kiên (người bắn rơi 4 chiếc B52), Trung tá Dương Thuận (người ấn nút bắn rơi tại chỗ chiếc B52 đầu tiên trên thế giới), Đại tá Đinh Thế Văn (người đã nghĩ ra cách đánh “đón trước nửa góc”)…

Bên cạnh đó, khán giả còn được trò truyện và nghe tâm sự của những người dân Hà Nội, những người đã chứng kiến thậm chí đã gánh chịu hi sinh, mất mát trong 12 ngày đêm máu lửa ấy, như nhạc sĩ Phú Quang, nhà văn Giang Quân, là những người đã từng sống tại phố Khâm Thiên vào những ngày cuối năm 1972…

BTC cũng cho biết, khác với những chương trình trước đây, “Bản hùng ca Hà Nội” không diễn ra trong những khán phòng, studio được bài trí trang trọng và có phần cứng nhắc mà thay vào đó với 6 điểm cầu, là 6 trận địa, lịch sử khác nhau nhằm tái hiện cho khán giả những hình dung chân thật hơn về những trang sử hào hùng, những ngày tháng chiến đấu oanh liệt của quân và dân ta.

Cầu truyền hình “Bản hùng ca Hà Nội” diễn ra lúc 20h ngày 16/12/2012.

Đó là 6 điểm cầu: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Sư đoàn 361, Bảo tàng Chiến thắng B52, Đài tưởng niệm Khâm Thiên, Trận địa tên lửa Chèm, hồ Hữu Tiệp. Trong đó, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam là điểm cầu chính.

Đặc biệt, chương trình có sự biểu diễn của nhạc sĩ Phú Quang và con gái, nghệ sĩ piano Trinh Hương và con rể, nghệ sĩ violin Bùi Công Duy. Nghệ sĩ Phú Quang sẽ biểu diễn ca khúc “Em ơi Hà Nội phố” trên chính nền đất mái nhà năm xưa của gia đình ông ở phố Khâm Thiêm bị bom kẻ thù đánh sập. Nghệ sĩ violin Bùi Công Duy và nghệ sĩ piano Trinh Hương sẽ biểu diễn bản nhạc “Chuyện kể tình yêu” và “Khi mùa thu đến”…

Bên cạnh tiết mục biểu diễn của các nghệ sĩ, chương trình cũng chiếu trích đoạn phim “Hà Nội 12 ngày đêm”, “Những ngày đêm không thể nào quên”…

Cầu truyền hình “Bản hùng ca Hà Nội” sẽ có thời lượng 150 phút, trên kênh 1 và 2 Đài PTTH Hà Nội. Đài PTTH Đồng Nai, Quảng Trị, Sơn La, Tuyên Quang, Điện Biên… tiếp sóng.

Thiên Kim
cand.com.vn

Họ tự vạch mặt mình

(Về những kẻ chống Việt Nam ứng cử vào Hội đồng nhân quyền)

Tại phiên thảo luận chung ngày 1 tháng 10 năm 2012 của Đại hội đồng Khóa 67, trưởng đoàn Việt Nam, Thứ trưởng Ngoại giao Phạm Quang Vinh đã chính thức thông báo Việt Nam ứng cử làm thành viên Hội đồng Nhân quyền (HĐNQ) Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014-2016.

Ngay sau khi Việt Nam chính thức ứng cử làm thành viên HĐNQ, trên các trạng mạng của các tổ chức hành nghề chống Cộng như “Ủy ban Nhân quyền Việt Nam”, “Những người bảo vệ nhân quyền Việt Nam” có trụ sở ở Việt Nam(?) cùng với Quỹ Tù nhân lương tâm”, “Tập hợp vì nền dân chủ”, và “Ủy ban Cứu người vượt biển” ( BPSOS) có trụ sở ở Mỹ và Australia…đã ” rầm rộ” “ký tên”, lên tiếng phản đối, đồng thời tìm cách thuyết phục các quốc gia thành viên của Liên hợp quốc không bỏ phiếu cho Việt Nam tham gia tổ chức này. Có thể nói việc làm của họ không chỉ tốn công vô ích, mà còn tự vạch mặt mình là những kẻ chống lại Tổ quốc.

Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (United Nations Human Rights Council) là một tổ chức trực thuộc Đại Hội đồng Liên hợp Quốc. Tổ chức này ra đời ngày 15/3/2006, theo Nghị quyết (A/RES/60/251). Đây là tổ chức nhân quyền mới, thay thế cho Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc đã chấm dứt hoạt động từ năm 2006. Trên danh nghĩa, với quyết định này từ nay cơ quan nhân quyền có vị trí ngang bằng với Hội đồng Bảo an và Hội đồng Kinh tế, xã hội và Văn hóa (ECOSOC). Ba Hội đồng này đảm trách ba nhiệm vụ quan yếu của LHQ là gìn giữ hòa bình, phát triển hợp tác kinh tế và bảo vệ nhân quyền.

Cũng với cái lý do “xưa như trái đất”, họ nói: “Chính quyền Hà Nội vi phạm rất trắng trợn quyền tự do lên tiếng của người dân, điển hình như các vụ xử blogger Điếu Cày, Tạ Phong Tần, AnhbaSG, hoặc đàn áp các cuộc biểu tình của dân oan hay bắt bớ, giam cầm những người muốn lên tiếng về chủ quyền Hoàng Sa – Trường Sa”…

Ông Phil Robertson, Phó Giám đốc phụ trách khu vực châu Á của tổ chức Theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch) – tổ chức được xem là “sân sau” của các ông nghị cực hữu, chống cộng trong Hạ viện Mỹ cũng té nước theo mưa, nói: “Họ bỏ tù trên chục năm đối với những người thực thi quyền bày tỏ quan điểm cá nhân như Điếu Cày hay Tạ Phong Tần. Thật quá tàn nhẫn. Điều này hoàn toàn trái ngược với cam kết của Hà Nội về tôn trọng nhân quyền và cách hành xử như vậy hoàn toàn không xứng đáng để Việt Nam ngồi vào chiếc ghế của HĐNQ Liên hợp quốc”.

Trong “những chứng cứ” mà người ta thường dùng để cáo buộc Việt Nam vi phạm nhân quyền là “Họ không làm gì có lỗi, mà chỉ sử dụng quyền tự do bày tỏ quan điểm cá nhân được pháp luật thừa nhận”.

Nhân đây xin lưu ý rằng, Việt Nam không bỏ tù ai về việc người đó “bày tỏ quan điểm cá nhân”, mà chỉ trừng phạt họ về hành vi “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” (Điều 88, Bộ luật Hình sự, 1999). Quy định này hoàn toàn không trái với “Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị”, năm 1966.

Điều 19, của Công ước nói trên quy định rằng: “Mọi người có quyền tự do ngôn luận… Việc thực hiện những quy định (về quyền này) kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, có thể phải chịu một số hạn chế nhất định… để: a, Tôn trọng các quyền và uy tín của người khác; b, Bảo đảm an ninh quốc gia, hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng” -Các văn kiện quốc tế cơ bản về quyền con người, Viện Nghiên cứu quyền con người, HN. 2002. Tr 258,259.

Đối với nhân dân Việt Nam, quyền con người là thành quả của cách mạng giải phóng dân tộc do Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. Việc tôn trọng và bảo đảm quyền công dân và quyền con người đối với Đảng và Nhà nước ta không chỉ là mục tiêu, lý tưởng, mà còn là chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước được đưa vào cuộc sống thường nhật.

Cho đến nay Việt Nam đã gia nhập hầu hết các công ước nhân quyền quốc tế cơ bản về quyền con người, trong đó có Công ước về Quyền Dân sự, Chính trị, Công ước về Quyền Kinh tế, Xã hội, Văn hoá; Công ước về Xóa bỏ mọi Hình thức phân biệt chủng tộc, Công ước về Xoá bỏ mọi Hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ. Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới và nước châu Á đầu tiên tham gia Công ước Quyền trẻ em. Hiện nay Việt Nam đang nghiêm túc xem xét việc tham gia Công ước chống tra tấn.

Các văn bản pháp luật trong nước được ban hành hoặc sửa đổi trong nhiều năm qua theo hướng nội luật hóa các công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia.

Có thể nói ở Việt Nam cho đến nay, các quyền con người về dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa đều được bảo đảm theo khả năng có thể của nền kinh tế và trình độ phát triển của văn hóa đất nước. Đặc biệt từ khi đất nước đổi mới, đời sống mọi mặt của người dân được nâng cao đáng kể.

Kể từ năm 2009, lần đầu tiên Việt Nam thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp. Đây là một cố gắng lớn của Việt Nam. Năm 2011, trong hoàn cảnh nền kinh tế thế giới gặp nhều khó khăn, chi ngân sách nhà nước cho công tác an sinh xã hội ước tăng khoảng 20% và dư nợ tín dụng ưu đãi thực hiện chính sách xã hội tăng khoảng 17% so với năm 2010, tỷ lệ hộ nghèo giảm khoảng 1,5%, Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đang được triển khai có hiệu quả. Những điều này đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.

Quyền tự do ngôn luận, báo chí và thông tin được bảo đảm ngày càng tốt hơn. Cho đến nay cả nước có trên 700 cơ quan báo chí với trên 850 ấn phẩm; 68 đài phát thanh, truyền hình Trung ương và tỉnh, thành phố, trên 80 báo điện tử, hàng nghìn trang tin điện tử và blogger… Người dân Việt Nam ngày nay còn được tiếp cận vớp nhiều hãng thông tấn, báo chí, các kênh truyền hình nước ngoài như Reuters, BBC, VOA, AP, AFP, CNN… Tốc độ phát triển Internet ở Việt Nam được xếp hạng nhanh nhất khu vực Đông Nam Á.

Tại Hội nghị không chính thức (IAMM – ngày 27 và 28/9/2012) các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN, nhân dịp Khóa họp của Đại hội đồng Liên hợp quốc, tại New York (Mỹ), sau khi nghe Thứ trưởng Bộ Ngoại Việt Nam Phạm Quang Vinh thông báo chính thức Việt Nam ứng cử làm thành viên HĐNQ nhiệm kỳ 2014 – 2016, các Ngoại trưởng ASEAN nhất trí ủng hộ mạnh mẽ Việt Nam ứng cử làm ứng cử viên của HĐNQ Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014-2016, dự kiến sẽ được bầu trong năm 2013.

Như vậy có thể nói, cơ hội để Việt Nam trở thành thành viên của HĐNQ khóa 2014-2016 là rất lớn. Tuy nhiên, việc Việt Nam nếu trở thành thành viên của tổ chức này thì không phải như các thế lực chống cộng trong và ngoài nước nói “là để che đậy những hành động “vi phạm nhân quyền trắng trợn hơn”, mà là tự nhận lấy trọng trách của mình trong việc bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền con người của nhân dân Việt Nam, đồng thời chia sẻ trách nhiệm bảo đảm quyền con người với cộng đồng quốc tế

Phương Nhi
cand.com.vn

Bản lĩnh trong chống tiêu cực, tham nhũng

Thiếu Tướng Phạm Văn Thạch
Sự liên kết giữa các ngành, các cấp để bảo vệ cho những người chống tiêu cực, tham nhũng là rất quan trọng. Có thể nói đó là chỗ dựa vững chắc. Tôi nghĩ rằng tạo nên được bản lĩnh một cách vững chắc thì công tác đấu tranh chống tiêu cực tham nhũng nhất định sẽ có chuyển biến mạnh.

Trong các phiên họp của kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIII đang diễn ra vấn đề tiếp tục đấu tranh chống tiêu cực tham nhũng được công luận quan tâm nhiều, bởi không chỉ tiêu cực tham nhũng ở nước ta được coi là đến mức báo động đỏ mà chính là hiệu quả công tác đấu tranh phòng ngừa còn thấp, còn xa so với kỳ vọng của người dân. Thấp ở đây thể hiện ở cả hai khâu: Phát hiện và xử lý. Vì sao lại có tình trạng này?

Ngay trong các phiên họp, nhiều đại biểu Quốc hội đã nói đây là công tác rất phức tạp vì đụng đến những cán bộ phần lớn còn đương chức, họ tìm nhiều cách che chắn. Một số thì cho rằng đội ngũ cán bộ làm công tác này vừa yếu vừa thiếu, điều kiện cơ sở vật chất chưa được đảm bảo, cơ chế chính sách có chỗ chưa phù hợp… Không ai nói những lí do ấy là không đúng nhưng dẫu sao đó cũng là “bài ca muôn thuở”.

Thực tế tiêu cực tham nhũng tuy nói là tinh vi nhưng nhìn bề ngoài thì rất dễ nhận ra. Kinh tế gia đình giàu lên một cách trông thấy, nhà nọ xe kia, con cháu đi du học nước ngoài… chỉ ít lâu sau khi người nhà được ngồi vào cái ghế mà nhiều người cần nhờ vả. Mặt khác đội ngũ cán bộ làm công tác này đâu phải đến nỗi quá mỏng, điều kiện làm việc đâu đến nỗi quá thiếu. Ở đây có một vấn đề mà chưa có nhiều người đề cập đến, chưa dám nhìn thẳng, đó là chúng ta đang thiếu đi một bản lĩnh cần thiết cho công tác này, mặc dầu trong nhiều nghị quyết của Trung ương đã kiên quyết tuyên chiến với loại “giặc nội xâm” này.

Trước đây trong cuộc kháng chiến chống xâm lược, bản lĩnh chiến đấu, bản lĩnh của anh bộ đội Cụ Hồ luôn là một điều được giáo dục tuyên truyền mạnh mẽ từ đó trở thành niềm vinh dự và tự hào. Trong cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay điều này là rất cần thiết. Chúng ta phải tiếp tục làm tốt việc giáo dục này nhất định quần chúng sẽ đồng tình ủng hộ. Lãnh đạo các cấp phải là người đi đầu trong việc đề cao bản lĩnh để tạo nên sức mạnh từ quần chúng. Nhìn chung chúng ta chưa thường xuyên làm tốt việc này, thậm chí có nơi chưa làm đã ngại khó, muốn được yên thân. Những biểu hiện tư tưởng đó chính là nguyên nhân triệt tiêu bản lĩnh tốt đẹp trong mỗi cá nhân.

Cần nêu cao học tập bản lĩnh của người xưa về chống tham nhũng, tiêu cực, đó là những bản lĩnh tiêu biểu quyết chiến đấu hy sinh đến cùng vì công lý cao đẹp. Bản lĩnh phải trở thành sức mạnh và ý chí của nhân dân. Muốn vậy phải khơi dậy và nuôi dưỡng được ý thức và nhiệt tình của đông đảo và phải tạo ra được hàng rào vững chắc bảo vệ cho những bản lĩnh đó. Cũng có người cho rằng hiện nay không ít người có bản lĩnh chống tham nhũng, nhưng tường rào bảo vệ để đi đến cùng của cuộc chiến trong mỗi vụ việc cụ thể thì còn yếu. Có nơi người tích cực đấu tranh bị phản công trở lại thì sự bảo vệ đó chưa tương xứng, thậm chí có trường hợp lâm vào cảnh “lên bờ xuống ruộng”.

Để cho những hiện tượng đó xảy ra là trách nhiệm của chúng ta, phải thấy thực sự đau lòng. Sự liên kết giữa các ngành, các cấp để bảo vệ cho những người chống tiêu cực, tham nhũng là rất quan trọng. Có thể nói đó là chỗ dựa vững chắc. Tôi nghĩ rằng tạo nên được bản lĩnh một cách vững chắc thì công tác đấu tranh chống tiêu cực tham nhũng nhất định sẽ có chuyển biến mạnh. Vừa qua theo tinh thần NQTƯ4 (khóa XI) thì nơi nào để xảy ra tham nhũng, tiêu cực thì thủ trưởng nơi đó phải chịu trách nhiệm. Để không rơi vào tình trạng “phải chịu trách nhiệm” ấy thiết nghĩ lãnh đạo các cấp cần coi việc xây dựng bản lĩnh chống tiêu cực tham nhũng là yếu tố đóng phần quyết định

P.V.T.
cand.com.vn

Cảnh giác, chủ động phòng, chống tự diễn biến

TS Hoàng Tương
Để ngăn chặn những biểu hiện tự diễn biến, trước hết phải bắt đầu từ chính mỗi cá nhân. Từng người phải có ý thức danh dự, đoàn kết phấn đấu vì lợi ích chung, tránh vì tư tưởng thiển cận, thiếu tầm nhìn xa, trông rộng mà làm ảnh hưởng đến năng lực và sức chiến đấu của cơ quan, đơn vị.

Tự diễn biến là sản phẩm và là biểu hiện cụ thể của chiến lược diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch. Chúng xác định nội bộ là trọng điểm có tính quyết định trong việc xóa bỏ Chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam. Ý đồ của chúng là tấn công vào nội bộ để phá hoại, lũng đoạn, tác động chuyển hóa từ bên trong trên tất cả các lĩnh vực, chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, xã hội, Công an, Quân đội; gia tăng các hoạt động tình báo gián điệp, đẩy mạnh các hoạt động phá hoại ngầm. Vậy làm gì để ngăn ngừa tự diễn biến(?).

Việt Nam chưa bao giờ nằm ngoài kính ngắm của chiến lược diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch. Để đẩy nhanh việc thực hiện chiến lược này, chúng sử dụng tổng hợp các hình thức, biện pháp và thủ doạn hoạt động, tập trung trước hết vào lĩnh vực tư tưởng và lý luận. Tự diễn biến (TDB) có thể tồn tại trong mỗi tổ chức, thậm chí trong mỗi con người, bởi vậy TDB vô cùng nguy hiểm và khó lường.

Trên thực tế những biểu hiện của TDB bộc lộ ở nhiều góc độ khác nhau. Chẳng hạn như trong nội bộ các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước hiện nay có một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, phai nhạt lý tưởng cách mạng, thiếu niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường đi lên CNXH ở nước ta. Một số khác có những ý kiến lệch lạc, nhìn nhận, phê phán lịch sử một cách thiếu khách quan, toàn diện, đòi đa nguyên, đa đảng theo kiểu dân chủ phương Tây, cổ xúy cho những mô hình xa rời thực tiễn Việt Nam. Trong giới trí thức cũng xuất hiện một số người khi phân tích, đánh giá, đưa ra giải pháp về các vấn đề xã hội thường rơi vào tình trạng phiến diện, thiếu cái nhìn đa chiều và tính biện chứng, lập blog cá nhân, đăng tải các thông tin không được kiểm chứng, kèm theo các bình luận có tính xuyên tạc sự thật. Có thể nói, đối tượng mà các thế lực thù địch sử dụng để thực hiện mục tiêu TDB trong lĩnh vực tư tưởng và lý luận là đông đảo.

Ở đâu có những phần tử bất mãn, cơ hội và cả những cán bộ, đảng viên và người dân chưa hiểu biết thấu đáo, thì ở đó xuất hiện những nhân tố để kẻ địch lợi dụng. Tất nhiên, những biểu hiện TDB trên không diễn ra một cách độc lập, khép kín mà xuyên thấm vào nhau rất tinh vi, phức tạp, có thể biến thành một thế lực có sức công phá ghê gớm và khôn lường nếu chúng ta đấu tranh ngăn chặn không hiệu quả. Hơn hai mươi năm trước đây khi lá cờ đỏ búa liềm trên điện Kremli bị kéo xuống, đã có không ít lời tiên đoán về ngày “đắm thuyền” không thể tránh khỏi ở Việt Nam. Và vài năm gần đây khi cơn địa chấn chính trị-xã hội đang tàn phá tại Bắc Phi-Trung Đông, các thế lực thù địch, phản động coi đó là “thời điểm vàng” để thực hiện “chiến dịch chuyển cách mạng màu về Việt Nam”. Tuy nhiên, mưu đồ đó đã và đang thất bại. Lực lượng Công an đã tổ chức đấu tranh thắng lợi hàng trăm vụ án gián điệp, phản động; đẩy lùi và vô hiệu hóa các âm mưu hoạt động tình báo, gián điệp, tập hợp lực lượng, hình thành tổ chức phản động, phá hoại tư tưởng, bạo loạn lật đổ ở Việt Nam của các thế lực thù địch; đấu tranh làm thất bại hoàn toàn các chiến dịch chống phá nước ta của các tổ chức phản động lưu vong; đập tan hàng chục chiến dịch chiến tranh tâm lý, tuyên truyền kích động chống chế độ. Những chiến công đó của lực lượng CAND không chỉ góp phần quan trọng vào việc giữ vững ổn dịnh chính trị đảm bảo cho đất nước phát triển bền vững mà còn là câu trả lời đanh thép nhất cho những lời tiên đoán xằng bậy, những mưu toan của các thế lực thù địch đưa TDB sâu vào nội bộ.

Để ngăn chặn những biểu hiện TDB, trước hết phải bắt đầu từ chính mỗi cá nhân. Từng người phải có ý thức danh dự, đoàn kết phấn đấu vì lợi ích chung, tránh vì tư tưởng thiển cận, thiếu tầm nhìn xa, trông rộng mà làm ảnh hưởng đến năng lực và sức chiến đấu của cơ quan, đơn vị. Một tập thể và mọi thành viên gắn bó tin tưởng lẫn nhau, tự ý thức cao về sự tồn tại và phát triển của chính mình, của đất nước, Tổ quốc mình thì những biểu hiện lệch lạc về tư tưởng chính trị sẽ không có đất để tồn tại. Mặt khác, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị cần nêu gương bằng hành động thực tế, thực hiện nghiêm quy chế dân chủ ở cơ sở, phát hiện và giải quyết thấu đáo mọi vướng mắc, lệch lạc về tư tưởng chính trị, nhờ đó mà khắc phục được căn bệnh tư tưởng-nguyên nhân tiềm ẩn của TDB, không để nó mặc sức lây lan. Làm được như vậy chắc chắn chúng ta sẽ xây dựng được nhiều tập thể vững mạnh, vì thế mà đẩy lùi được nguy cơ TDB.

Giữ vững ổn định và phát triển bên trong là điều kiện tiên quyết đánh bại âm mưu và thủ đoạn TDB của các thế lực thù địch. Và do đó, cảnh giác, chủ động phòng, chống TDB không một phút lơ là, sao nhãng là trách nhiệm, nghĩa vụ của chúng ta, đảm bảo cho đất nước phát triển lành mạnh, bền vững, theo định hướng XHCN

H.T.
cand.com.vn

Bảo đảm sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước

Hội nghị Trung ương 6 (khóa XI) vừa bế mạc sau 15 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, với tinh thần đoàn kết, dân chủ, trí tuệ, trách nhiệm cao. Đây là hội nghị Trung ương dài nhất, nội dung công việc hết sức lớn, phong phú và đa dạng, thảo luận và quyết định nhiều vấn đề quan trọng của đất nước, được toàn thể đảng viên và nhân dân cả nước hết sức trông đợi.

Hội nghị đã thảo luận và quyết định về tình hình kinh tế – xã hội năm 2012 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2013; khẳng định những thành tựu đã đạt được đồng thời chỉ ra những hạn chế, yếu kém cần khắc phục trong thời gian tới những vấn đề lớn như thành lập và quản lý tập đoàn và các doanh nghiệp nhà nước; quản lý đất đai; giáo dục – đào tạo; khoa học – công nghệ; xây dựng qui hoạch cán bộ. Đặc biệt, hội nghị cũng đã dành nhiều thời gian để nghe giải trình, thảo luận, nghiên cứu, cho ý kiến về kết quả kiểm điểm phê bình và tự phê bình của Bộ Chính trị, Ban Bí thư theo Nghị quyết Trung ương 4.

Trong Báo cáo giải trình cũng như trong diễn văn bế mạc hội nghị của đồng chí Tổng Bí thư về vấn đề này đã toát lên tinh thần phê bình và tự phê bình hết sức thẳng thắn, nghiêm túc của tập thể cũng như từng thành viên trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư trước Trung ương Đảng cũng là trước toàn Đảng, toàn dân ta. Quá trình và nội dung kiểm điểm đã bám sát các yêu cầu và nội dung của Hội nghị Trung ương 4, quán triệt tư tưởng chỉ đạo giữ đúng nguyên tắc, có tình đoàn kết, thương yêu lẫn nhau giữa những người đồng chí, có lý có tình, trị bệnh cứu người, giúp nhau cùng tiến bộ. Với ý thức trách nhiệm và gương mẫu cao, các nội dung kiểm điểm đã đặt ra, phân tích, mổ xẻ, rút ra bài học sâu sắc từ những vấn đề nổi cộm, bức xúc trong công tác, đời sống hàng ngày của các cán bộ cao cấp cũng như của gia đình, vợ con, người thân các đồng chí đó.

Qua đấu tranh phê bình và tự phê bình, nhiều đồng chí đã tự giác xem xét, nhìn lại mình, bước đầu tự sửa chữa khuyết điểm, tự điều chỉnh một số hành vi trong công tác và cuộc sống. Qua phê bình và tự phê bình, các đồng chí trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư có điều kiện hiểu biết nhau hơn, chia sẻ, học hỏi lẫn nhau, đoàn kết, gắn bó hơn. Cũng qua phê bình và tự phê bình lần này, Bộ Chính trị và Ban Bí thư đã bàn và chỉ đạo giải quyết ngay một số vấn đề nổi cộm, bức xúc, phát huy các nhân tố tích cực, siết lại kỷ luật, kỷ cương có tác dụng cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe các hành vi tiêu cực.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 6. Ảnh: TTXVN.

Cách mạng là một quá trình. Nhân dân ta, cả những người Việt Nam ở trong nước cũng như ngoài nước thấy tin cậy trước tấm gương đi đầu trong phê bình, tự phê bình của các đồng chí trong Trung ương, nhất là các đồng chí trong Bộ Chính trị và Ban Bí thư. Việc các đồng chí lãnh đạo cao cấp trong Ban Chấp hành Trung ương dũng cảm nhận lỗi về những yếu kém, tồn tại trong công tác xây dựng Đảng, những suy thoái, tiêu cực trong đội ngũ cán bộ đảng viên và sự tự nhận thức sâu sắc trách nhiệm của mình trước những khuyết điểm, thiếu sót đó, quyết tâm vươn lên xây dựng Đảng vững mạnh, tiếp tục tăng cường ổn định chính trị, đưa đất nước phát triển đi lên không ngừng đã củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng. Niềm tin đó, sự gắn bó đó sẽ là sức mạnh to lớn trong việc thực hiện thành công cương lĩnh chính trị, ngọn cờ tư tưởng của Đảng trong thời kỳ mới, xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh

S.T.
cand.com.vn

Không thể chụp mũ “tự do ngôn luận”

Việc mượn cớ các tổ chức xưng danh nhân quyền hay bất kỳ danh xưng nào khác để viết thư kêu gọi hay thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào nhằm gây sức ép lên cơ quan tiến hành tố tụng của một quốc gia trong xét xử vụ án là hoàn toàn phi lý.

Ít ngày nữa, TAND TP Hồ Chí Minh sẽ mở phiên tòa sơ thẩm xét xử ba bị cáo phạm tội “tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam” theo khoản 2, Điều 88, BLHS. Ba bị cáo bị đưa ra xét xử gồm: Nguyễn Văn Hải (60 tuổi, còn gọi là Hoàng Hải, Hải Điếu Cày), Tạ Phong Tần (44 tuổi, quê Bạc Liêu) và Phan Thanh Hải (43 tuổi, ngụ quận Thủ Đức – TP Hồ Chí Minh).

Việc xét xử các bị cáo phạm một tội được quy định trong BLHS là công việc bình thường của tòa án. Thế nhưng, trong mấy ngày qua, một số cá nhân, tổ chức nước ngoài đã nhân sự việc này vu cáo chính quyền “vi phạm nhân quyền” mà chiêu bài vẫn chỉ xoay quanh cái gọi là “tự do dân chủ, tự do báo chí”, từ đó có các hành động như viết bài xuyên tạc sự thật trên mạng internet, viết thư gửi các cơ quan quốc tế và tại Việt Nam để gây sức ép.

Hôm 31/7, ba tổ chức của cái gọi là Ủy ban Bảo vệ quyền làm người Việt Nam (Vietnam Committee on Human Rights), Liên Đoàn Quốc tế nhân quyền (FIDH, International Federation for Human Rights) và Tổ chức quan sát nhằm bảo vệ người đấu tranh cho nhân quyền (The Observatory for the Protection of Human Rights Defenders) viết thư chung gửi đến một số đại sứ về phiên tòa xử ba bị cáo với lời lẽ thiếu thiện chí, can thiệp vô lý vào công việc nội bộ của các cơ quan tiến hành tố tụng Việt Nam khi trắng trợn đòi “rút bỏ mọi cáo trạng” đối với ba bị cáo và “tức khắc trả tự do vô điều kiện”.

Xét xử là công việc của tòa án và tòa chỉ quyết định trên cơ sở pháp luật. Không có bất cứ cá nhân, tổ chức nào khác ngoài HĐXX của tòa án được giao trực tiếp xét xử vụ án có quyền can thiệp đến bản án. Đó là nguyên tắc không chỉ đối với luật pháp Việt Nam mà các quốc gia trên thế giới cũng đều tuân thủ nguyên tắc này khi giao quyền độc lập xét xử cho tòa án. Việc mượn cớ các tổ chức xưng danh nhân quyền hay bất kỳ danh xưng nào khác để viết thư kêu gọi hay thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào nhằm gây sức ép lên cơ quan tiến hành tố tụng của một quốc gia trong xét xử vụ án là hoàn toàn phi lý. Vì vậy, thay cho việc tác động như trên, những thế lực vốn lâu nay mượn áo dân chủ, nhân quyền, chụp mũ “tự do ngôn luận”, “tự do báo chí” cần phải nhận thức và tuân thủ những nguyên tắc sơ đẳng nhất.

Thực tế, việc các bị cáo bị tòa án đưa ra xét xử lần này đã có các hành vi phạm vào Điều 88 – BLHS, các hành vi này thể hiện rõ trong cáo trạng của VKS. Chỉ trong thời gian từ tháng 9/2007 đến tháng 10/2010, đã có 421 bài đăng trên CLB nhà báo tự do, trong đó có 94 bài do thành viên câu lạc bộ viết và 327 bài lấy lại từ các blog, trang web của các tổ chức hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam.

Trong số này, 26 bài được giám định, kết luận: “hầu hết những bài viết đều chứa nội dung, giá trị của sự phê phán trong tinh thần không phải để xây dựng, hoặc cao hơn là lên án, kết án nhằm hướng tới sự cổ động, kích động công luận tham gia đấu tranh thay đổi sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản, thay đổi chế độ chính trị, Nhà nước hiện tại nhằm xây dựng một chế độ khác, nhà nước khác… Xác lập và công bố hệ thống quan điểm về thông tin báo chí, ngôn luận của một nhóm nhà báo mệnh danh tự do cố thể hiện mình như là thế lực mới đang được hình thành và từng bước trưởng thành trong lòng Chế độ Cộng sản ở Việt Nam hiện tại nhằm mục đích xây dựng, tập hợp lực lượng chính trị chống đối phục vụ cho âm mưu diễn biến, lật đổ trước mắt và lâu dài”.

Việc viết bài trên các blog, mạng xã hội… với nội dung xuyên tạc, vu cáo, chống chính quyền nhân dân là vi phạm các quy định hiện hành của luật pháp Việt Nam. Ngay tại nước Mỹ, nơi được cho là “thiên đường tự do ngôn luận”, thì luật pháp các bang ở Mỹ cũng quy định rất rõ vấn đề này và không ít cá nhân vi phạm đã bị bắt, xử lý.

Chẳng hạn, ông James Buss, giáo viên Trường Trung học Milwaukee, bị bắt vì đã vào blog của các nhà chính trị bang Wisconsin với lời bình mang biệt danh “Người quan sát” (Observer) cho rằng, giáo viên Mỹ được trả lương cao nhưng lười biếng và khen vụ một thiếu niên xả súng ở Trường Trung học Columbine làm 12 học sinh và một giáo viên thiệt mạng hồi tháng 4/1999. Cảnh sát cho rằng, hành động của Buss có tính kích động bạo lực trong trường học, tương đương việc nói “có bom trên máy bay”, đồng thời hạ thấp nhân phẩm giáo viên

Đăng Trường
cand.com.vn


26 năm tù cho 3 đối tượng tạo dựng blog “Câu lạc bộ Nhà báo tự do”

Không thể ngụy biện “tự do ngôn luận” để xuyên tạc, chống phá Nhà nước

Tùy điều kiện chính trị, xã hội từng quốc gia mà có các quy định quản lý khác nhau về thông tin trên internet, song nguyên tắc chung là không chấp nhận việc thông tin xuyên tạc, bôi nhọ, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và cao hơn là xâm phạm an ninh quốc gia.

Như đã thông tin, ngày 12/9, Văn phòng Chính phủ có văn bản thông báo ý kiến của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo các cơ quan chức năng điều tra, xử lý việc một số trang thông tin điện tử (blog, mạng xã hội) đăng tải thông tin có nội dung vu khống, bịa đặt, xuyên tạc, không đúng sự thật nhằm bôi đen bộ máy lãnh đạo của đất nước, kích động chống Đảng và Nhà nước ta, gây hoài nghi và tạo nên những dư luận xấu trong xã hội. Đây là thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch. Theo đó, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Công an chủ trì phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông và các cơ quan chức năng tập trung chỉ đạo điều tra, xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm theo đúng quy định của pháp luật.

Ngay sau khi Văn phòng Chính phủ truyền đạt ý kiến chỉ đạo nói trên của Thủ tướng, ngày 13/9, trên một số trang mạng xã hội, blog lại xuất hiện các thông tin ngụy biện rằng, viết, bình luận trên internet là quyền tự do thông tin, việc siết chặt quản lý internet là vi phạm “tự do ngôn luận”, “tự do báo chí”…

Đây là cách giải thích mang tính quy chụp, hoàn toàn không có cơ sở khoa học. Ở Việt Nam hay nhiều quốc gia trên thế giới, việc thông tin trên internet đều phải tuân thủ những quy định, nguyên tắc cụ thể, trong đó dù ở nước đang phát triển hay các nước phát triển, các thông tin đăng tải lên internet phải đảm bảo tính khách quan, chính xác. Các thông tin xuyên tạc, bịa đặt, bôi nhọ cá nhân, tổ chức đều là phạm pháp và người vi phạm phải chịu trách nhiệm trước luật pháp.

Tại các nước phát triển, nơi được cho là mảnh đất của tự do ngôn luận, tự do báo chí, chính quyền các nước này cũng đặt ra các điều khoản cụ thể quản lý thông tin trên internet và nhiều cá nhân, tổ chức vi phạm đã bị xử lý. Cảnh sát Italia từng bắt giữ một blogger 59 tuổi Roberto Mancini và xử phạt tới 16.900 USD do người này lên mạng đưa các thông tin xuyên tạc, vu khống người khác. Tại Pháp, Christopher cũng từng lên bolg đưa những bài viết có nội dung chỉ trích thị trưởng thành phố Puteaux mà nội dung mang tính xuyên tạc, bịa đặt. Christopher đã bị cảnh sát địa phương bắt giữ và xử lý. Tòa án Ai Cập kết án 3 năm tù giam đối với blogger Suleiman, 22 tuổi. Suleiman bị cáo buộc đã có hành vi phỉ báng đạo Hồi, đồng thời y còn bị phạt thêm 1 năm tù do có hành vi viết bài phỉ báng Tổng thống trên mạng internet. Còn tại Mỹ, chuyện blogger viết bài xuyên tạc trên mạng và bị kiện, xử lý trước tòa cũng không hiếm như việc blog đăng ảnh của diễn viên nổi tiếng Jennifer Aniston mà không được phép. Ông James Buss, giáo viên Trường Trung học Milwaukee bị bắt vì đã vào blog của các nhà chính trị bang Wisconsin với lời bình mang biệt danh “Người quan sát” (Observer), kích động vụ một thiếu niên xả súng ở Trường Trung học Columbine làm 12 học sinh và một giáo viên thiệt mạng hồi tháng 4/1999.

Ở Liên bang Nga, ngày 30/7 vừa qua, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã ký ban hành luật sửa đổi về internet của Nga. Luật này quy định hoạt động của các website chứa những thông tin bị coi là nguy hiểm đều bị nghiêm cấm. Đồng thời, Tổng thống Nga Vladimir Putin cũng ký ban hành luật chống vu khống. Người nào có hành vi vu khống, kể cả việc lên mạng internet vu khống, sẽ bị xử phạt nhiều mức, trong đó có cải tạo và phạt tiền lên đến 5 triệu rúp. Nga cũng như nhiều nước tư bản khác quy định rõ việc lợi dụng internet để xâm hại chính quyền, an ninh quốc gia và những hành vi này sẽ bị phạt nặng.

Như vậy, tùy điều kiện chính trị, xã hội từng quốc gia mà có các quy định quản lý khác nhau về thông tin trên internet, song nguyên tắc chung là không chấp nhận việc thông tin xuyên tạc, bôi nhọ, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và cao hơn là xâm phạm an ninh quốc gia. Có ý kiến cho rằng blog là nhật ký nên họ có quyền tự do viết bất kỳ những gì họ muốn. Tuy nhiên, blog chỉ coi là nhật ký cá nhân nếu được đặt chế độ riêng tư (chỉ có chủ nhân blog đó đọc được). Còn khi viết blog công khai trên mạng, thì người viết phải chịu trách nhiệm về nội dung đưa lên. Hiện, một số blog bằng nhiều cách đã “câu” sự tò mò của người đọc, khiến lượng độc giả khá lớn, không thua kém trang báo điện tử.

Từ những viện dẫn trên, việc Nhà nước ta đưa ra các quy định quản lý thông tin trên internet cũng như xử lý các cá nhân, tổ chức vi phạm là phù hợp thực tiễn chung. Do đó, không thể chụp mũ thông tin trên blog, mạng xã hội là “tự do ngôn luận”, “tự do báo chí”. Ngày 23-8-2001, Chính phủ có Nghị định số 55, quy định quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ internet. Nghị định này nghiêm cấm: “Lợi dụng internet để chống lại nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; gây rối loạn an ninh, trật tự; vi phạm đạo đức, thuần phong, mỹ tục và các vi phạm pháp luật khác”

Đăng Trường
cand.com.vn

Lời điếu làm rung động triệu triệu con tim

Ông Đống Ngạc.

“Tôi không dám nghĩ rằng Bác Hồ đã mất và hình dung trước mặt là hình ảnh của Người. Người đã làm rạng rỡ dân tộc và non sông đất nước ta. Trong tôi dâng trào niềm tiếc thương và xúc động vô hạn. Nó đã giúp tôi có cảm xúc mạnh mẽ để viết và hoàn thành bản thảo”, ông Đống Ngạc, nguyên Thư ký giúp việc của Tổng Bí thư Lê Duẩn, người chấp bút Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam để đọc tại Lễ Truy điệu Hồ Chủ tịch, kể lại.

Tròn một phần tư thế kỷ là thư ký giúp việc cho Tổng Bí thư Lê Duẩn, trong quá trình phấn đấu công tác, ông được đề bạt là Phó Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và sau này giữ chức Phó Tổng biên tập Nhà Xuất bản Sự thật. Sau khi nghỉ hưu, ông tham gia biên tập nhiều đề tài tổng kết lịch sử rất quan trọng, trong đó có đề tài được đề nghị Giải thưởng Hồ Chí Minh. Ông chính là Đống Ngạc, nguyên Thư ký giúp việc của Tổng Bí thư Lê Duẩn.

Ông Đống Ngạc sinh năm 1925, tại xã Tam Đàn, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam, quê hương giàu truyền thống cách mạng. Năm 14 tuổi, ông vào học tại Trường Quốc học Huế. Học hết chương trình tú tài phần một, ông quyết định xếp bút nghiên đi theo cách mạng.

Tháng 9 năm 1945, ông được tuyển vào Quân đội và biên chế về Đại đội 4, Chi đội do đồng chí Võ Quang Hồ chỉ huy (đồng chí Võ Quang Hồ sau này là Phó Cục trưởng Cục Tác chiến – Bộ Tổng Tham mưu – Quân đội nhân dân Việt Nam).

Tháng 10 năm 1945, đơn vị ông tham gia đoàn quân Nam tiến, cùng quân và dân Khánh Hoà chống thực dân Pháp bảo vệ thành phố Nha Trang. Ông không may bị thương. Vì vết thương quá nặng nên ông được trở về quê hương.

Theo đề nghị của Ủy ban Việt minh xã, người thanh niên đất Quảng quyết tâm vượt lên thương tích nhận nhiệm vụ làm chính trị viên dân quân xã, đồng thời gia nhập Đoàn thanh niên cứu quốc. Công tác ở xã được nửa năm, ông được cử đi dự Đại hội Đoàn Thanh niên cứu quốc huyện Tam Kỳ và được bầu làm Bí thư Huyện đoàn. Và từ đó, làm công tác đoàn thanh niên, ông đã phấn đấu lên đến chức Thường vụ Trung ương đoàn, phụ trách công tác nông nghiệp.

Tháng 4 năm 1962, ông Đống Ngạc được tổ chức phân công về công tác tại Văn phòng Trung ương Đảng, làm thư ký giúp việc cho đồng chí Lê Duẩn từ đó (ngày ấy đồng chí Lê Duẩn là Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam). Về kỷ niệm ngày đầu giúp việc đồng chí Lê Duẩn, ông Đống Ngạc kể lại:

“Được về giúp việc cho anh Ba (tên gọi thân mật của đồng chí Lê Duẩn) nhà lãnh đạo kiệt xuất, người chiến sĩ cộng sản kiên cường, người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi rất vinh dự nhưng cũng rất lo lắng không hiểu có hoàn thành nhiệm vụ anh Ba giao cho hay không. Nhưng làm việc với anh Ba, tôi thấy anh là một con người giản dị, nhân hậu, rất gần gũi cuộc sống đời thường; một con người biết kết hợp nhuần nhuyễn tình cảm cách mạng cháy bỏng với tri thức cách mạng sâu sắc; một nhà chiến lược có sự nhạy cảm đặc biệt về chính trị, có tư duy năng động sáng tạo, thể hiện tinh thần độc lập tự chủ rất cao. Mặc dù bận trăm công ngàn việc, nhưng anh thường xuyên quan tâm động viên, hướng dẫn tôi rất cụ thể, tỉ mỉ về công việc của người thư ký giúp việc anh.

Hai mươi nhăm năm được sống và làm việc bên anh Ba, tôi có rất nhiều kỷ niệm với anh. Nhưng có lẽ kỷ niệm sâu sắc nhất là lần tôi được anh Ba giao nhiệm vụ chấp bút Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam để đọc tại lễ truy điệu Hồ Chủ tịch.

Những ngày cuối tháng 8 năm 1969, tình hình sức khoẻ của Bác có chiều hướng xấu đi. Tập thể giáo sư, bác sỹ mang hết tinh thần trách nhiệm, nghị lực và tình cảm kính yêu đặc biệt đối với Bác để quyết thắng căn bệnh hiểm nghèo của Người. Trong những ngày ấy, anh Ba và các đồng chí trong Bộ Chính trị cũng vào thăm sức khoẻ của Bác. Sáng sớm ngày 2/9/1969, anh Ba vào thăm Bác rất sớm, ở lại bên giường Bác mãi đến trưa mới về nhà. Tôi linh cảm có điều gì rất hệ trọng đã xảy ra. Nghe tiếng còi xe, tôi ra cổng đón anh. Anh Ba bước xuống xe, mặt buồn rười rượi, đôi mắt đỏ hoe, tôi hiểu ngay rằng cái điều hệ trọng không ai mong muốn đã đến: Bác Hồ của chúng ta đã ra đi theo cụ Các Mác, cụ Lê Nin và các bậc đàn anh khác.

Mấy ngày hôm đó, vòm trời Hà Nội cũng như cả nước trĩu nặng một nỗi buồn, thiên nhiên như cũng đau nỗi đau của con người. Công tác chuẩn bị tang lễ Bác diễn ra hết sức dồn dập. Những người giúp việc anh Ba, nhất là bộ phận thư ký chúng tôi đều ứng trực cao độ. 9h tối 6/9/1969, vừa đi họp ở Bộ Chính trị về, anh Ba cho gọi tôi và anh Đậu Ngọc Xuân, trong Tổ Thư ký lên phòng làm việc của anh ở số 6 – Hoàng Diệu. Anh trầm ngâm đưa cho chúng tôi Bản Di chúc của Bác Hồ (văn bản mà Bộ Chính trị quyết định công bố trong Lễ Truy điệu Hồ Chủ tịch), hai dự thảo Điếu văn do bộ phận khác chấp bút (hai bản dự thảo này không được Bộ Chính trị thông qua) và giao nhiệm vụ:

- Hai chú chuẩn bị giúp tôi bản Điếu văn khác để đọc tại Lễ Truy điệu Bác.

Nghe đến đây tôi và anh Xuân nhận thức rất rõ rằng công việc được giao là một vinh dự rất lớn nhưng hết sức khó khăn, vượt quá sức mình. Chưa kịp định thần trước nhiệm vụ được giao thì anh Ba chỉ đạo: “Về cuộc đời và sự nghiệp của Bác Hồ đã ăn sâu vào tâm trí của mỗi người dân Việt Nam. Vì thế Điếu văn vĩnh biệt Người không nên viết theo công thức. Phải làm sao thông qua Điếu văn nêu bật được những tư tưởng lớn của Người để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thấu suốt hơn nữa, lấy đó làm mục tiêu phấn đấu, quyết biến sự nghiệp của Người thành hiện thực.

Thứ nhất, Hồ Chủ tịch nêu cao chân lý: “Không có gì quý hơn độc lập tự do” lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh đến cùng chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc để hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Thứ hai, Hồ Chủ tịch gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, dìu dắt đồng bào ta phấn đấu vì dân giàu nước mạnh, vì ấm no hạnh phúc của mọi người. Thứ ba, Hồ Chủ tịch dày công xây đắp khối đại đoàn kết dân tộc, kêu gọi toàn dân thực hiện, coi đó là bí quyết thắng lợi của cách mạng nước ta. Thứ tư, Hồ Chủ tịch kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế cách mạng. Thứ năm, Hồ Chủ tịch là tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng cần kiệm liêm chính, chí công vô tư để mọi người học tập noi theo. Các chú chú ý đến văn phong, lời lẽ phải trang trọng, sâu sắc, cô đọng; văn chương phải có hồn và đi vào lòng người. Cố gắng làm xong trong đêm nay để kịp sáng mai Bộ Chính trị thông qua”.

lời điếu a2Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Quảng trường Ba Đình.

Sau khi nhận nhiệm vụ, chúng tôi hội ý và xây dựng đề cương khái quát. Quá 12 giờ đêm, chúng tôi vẫn chưa viết được đoạn nào. Mấy hôm đó, chúng tôi đều thức để chuẩn bị phục vụ tang lễ Hồ Chủ tịch. Chắc vì quá mệt, nên anh Đậu Ngọc Xuân gục xuống bàn. Tôi dìu anh vào giường để anh nằm nghỉ và quay lại tiếp tục nghiên cứu để viết.

Lúc này, chỉ mình tôi ngồi đối diện trang giấy trắng. Tôi không dám nghĩ rằng Bác Hồ đã mất và hình dung trước mặt là hình ảnh của Người. Người là lãnh tụ có công lao trời biển và hy sinh cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng. Người đã làm rạng rỡ dân tộc và non sông đất nước ta. Nay Người đã ra đi! Dân tộc ta đứng trước một tổn thất, một đau thương lớn lao vô cùng. Trong tôi dâng trào niềm tiếc thương và xúc động vô hạn. Nó đã giúp tôi có cảm xúc mạnh mẽ để viết và hoàn thành bản thảo.

Sáng hôm sau, anh Ba dậy sớm hơn mọi ngày và gọi tôi cầm bản thảo lên đọc cho anh nghe. Nghe xong, anh chỉ thị:

- Về cơ bản là được, chú cần suy nghĩ thêm về đoạn nói về tư tưởng của Bác, nội dung 5 lời thề và cân nhắc thêm về từ ngữ.

Dừng lại nhìn tôi, chắc thấy sắc mặt tôi nhợt nhạt, đôi mắt thâm quầng vì thiếu ngủ mấy hôm triền miên, anh động viên:

- Nhưng thôi, chú thức suốt đêm chắc là mệt lắm, hãy cứ để như thế cho đánh máy rồi lấy thêm ý kiến của các đồng chí trong Bộ Chính trị và Ban Bí thư, sau đó sửa chữa một thể.

Theo sự chỉ đạo của anh Ba, tôi đưa bản thảo sang bộ phận văn thư của Văn phòng Trung ương ở 1A Hùng Vương để đánh máy. Chị Vũ Thị Sinh, Tổ trưởng Tổ Đánh máy đọc bản thảo một lần rồi vừa đánh máy vừa khóc, mọi ngày hai bàn tay như múa trên bàn phím mà hôm đó cứ lóng nga lóng ngóng. Tôi động viên chị trấn tĩnh để hoàn thành bản thảo cho kịp thời gian.

8h sáng 7/9/1969, Bộ Chính trị và Ban Bí thư họp để bàn một số công việc, trong đó có nội dung tham gia vào dự thảo điếu văn. Sau khi lấy ý kiến tham gia, tôi và anh Xuân tập trung chỉnh sửa rất khẩn trương và tích cực, đến quá trưa thì công việc tạm xong. Đó là lần sửa chữa quan trọng nhất nhưng chưa phải là lần cuối cùng.

Sau khi nghe chúng tôi báo cáo kết quả sửa chữa lần thứ nhất, anh Ba đồng ý và chỉ thị cho chúng tôi gửi Điếu văn cho anh Trường Chinh, anh Phạm Văn Đồng, anh Tố Hữu, anh Hoàng Tùng… để các anh xem lại, góp ý kiến cho thật chặt chẽ và hoàn hảo. Đồng thời, gửi sang Ban Đối ngoại để kịp dịch ra năm thứ tiếng nước ngoài. Khoảng 8h tối 7 tháng 9, Điếu văn đã hoàn thiện sau 4 lần rà soát, sửa chữa.

Sáng ngày 8 tháng 9, chúng tôi trình anh Ba bản Điếu văn chính thức. Anh xem và nói:

- Tôi nói giọng miền Trung, đồng bào ngoài Bắc khó nghe, tôi phải đọc trước mới được.

Đọc được mấy dòng, anh nghẹn lại, hai hàng lệ cứ lăn dài trên gò má làm nhoà cả kính. Nhìn anh Ba khóc, chúng tôi càng hiểu tình cảm của anh với Bác Hồ kính yêu và tất cả chúng tôi không ai cầm được nước mắt. Ngoài trời mưa tầm tã.

Sáng 9/9/1969, Lễ Truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh được cử hành trọng thể và trang nghiêm với lòng thành kính và biết ơn vô hạn với Bác, trên 33 vạn đồng bào, chiến sĩ cả nước và hơn 40 đoàn đại biểu các nước trên thế giới kính viếng và dự Lễ Truy điệu Người.

Sau khi anh Ba nghẹn ngào đọc Di chúc của Bác và Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng: “Hồ Chủ tịch kính yêu của chúng ta không còn nữa! Tổn thất này vô cùng lớn lao! Đau thương này thật là vô hạn!… Dân tộc ta và Đảng ta mất đi một vị lãnh tụ thiên tài và một người thầy vĩ đại. Phong trào Cộng sản quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc và cả loài người tiến bộ mất đi một chiến sỹ lỗi lạc, một người bạn chiến đấu kiên cường và thân thiết… Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, Người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta…” cả Quảng trường lặng đi rồi oà lên khóc. Các cháu thiếu nhi gục đầu vào lòng các bác lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước khóc nức nở.

Để thể hiện quyết tâm biến đau thương thành hành động cách mạng, sau mỗi lời thề trước anh linh của Bác, cả rừng cánh tay giơ cao cùng Ban Chấp hành Trung ương xin thề với Bác sẽ làm tròn sứ mệnh mà Người đã tin cậy giao phó, nguyện đi theo con đường mà Người đã vạch ra…”

Nguyễn Đức Quý
cand.com.vn

Tọa đàm Văn hóa, giao tiếp ứng xử và chấp hành Điều lệnh Công an nhân dân

Tối ngày 19/8/2012, Hội Phụ nữ, Đoàn cơ sở E375 đã phối hợp tổ chức Tọa đàm với chủ đề “Văn hóa giao tiếp ứng xử và chấp hành Điều lệnh Công an nhân dân”. Đến tham dự buổi Tọa đàm có các đồng chí trong Ban Chỉ huy Trung đoàn 375, đồng chí Nguyễn Thị Hồng Vân – Trưởng ban Ban Công tác phụ nữ Bộ Tư lệnh Cảnh vệ, đồng chí Nguyễn Phi Hùng – Bí thư Đoàn Thanh niên Bộ Tư lệnh Cảnh vệ, đại diện các Đoàn cơ sở kết nghĩa và toàn thể hội viên và đoàn viên thanh niên trong Trung đoàn.

Toa dam 375 chuanTọa đàm với chủ đề “Văn hóa, giao tiếp ứng xử và chấp hành Điều lệnh Công an nhân dân”

Trong không khí sôi nổi, buổi Tọa đàm đã làm nổi bật chức năng, nhiệm vụ đặc trưng của Trung đoàn, đó là vũ trang canh gác, tuần tra bảo vệ an ninh trật tự Cụm Di tích lịch sử – văn hóa Ba Đình, tổ chức, đón tiếp và hướng dẫn đồng bào và khách quốc tế vào Lăng viếng Bác; tiêu binh danh dự, lái xe môtô hộ tống bảo vệ các đoàn khách quốc tế cấp cao, các đại sứ trình quốc thư, gác danh dự các cuộc tiếp khách của lãnh đạo Đảng, Nhà nước; tầm quan trọng của việc chấp hành Điều lệnh Công an nhân dân trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị, cũng như trong đời sống của mỗi cán bộ, chiến sĩ.

Đã có rất nhiều câu hỏi và tình huống được nêu ra, hầu hết các câu trả lời đều đi vào trọng tâm và khẳng định vị trí và vai trò của việc thực hiện tốt văn hóa giao tiếp ứng xử và chấp hành Điều lệnh Công an nhân dân đã giúp ích rất nhiều cho các đồng chí trong quá trình làm việc và qua đó đã tạo nên một nếp sống tốt, hình ảnh đẹp về người chiến sĩ Công an nói chung và người chiến sĩ Cảnh vệ bên Lăng Bác nói riêng, tránh lối sống buông thả, coi nhẹ việc chấp hành Điều lệnh Công an nhân dân và chưa thực hiện tốt nếp sống văn hóa, để mỗi cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 375 nhận thức và thực hiện tốt Điều lệnh Công an nhân dân và văn hóa ứng xử trong công tác đón tiếp, tuyên truyền tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Xuân Trang
bqllang.gov.vn