“Sổ, tem, phiếu” thời bao cấp

“Ngẩn ngơ như người mất sổ gạo” là thành ngữ điển hình của thời bao cấp ngày xưa. “Sổ gạo” tức là “Sổ lương thực” mà Nhà nước ta thời ấy phát cho mỗi hộ gia đình. Trong sổ ghi rõ họ tên, tiêu chuẩn lương thực hằng tháng của từng người. Đầu tháng, mang “Sổ gạo” ra cửa hàng lương thực gần nhất, xếp hàng, đợi gạo. Có dạo bán cả tháng, có dạo lại chỉ bán nửa tháng một. Gọi là “Sổ gạo”, nhưng thường thường là “nửa gạo, nửa mì”. Mì, có khi là mì bột, có khi là mì sợi, do các nước XHCN ngày ấy viện trợ cho Việt Nam. Thời đánh Mỹ lại càng nhiều mì. Cũng lắm khi, thay cho mì là ngô xay, là sắn khô, và sau này là hạt bo bo.

Phiếu thực phẩm

Nông dân, hiển nhiên là không có “Sổ gạo”. Riêng những làng nghề-ví dụ như quê tôi, làm thêm nghề tằm tơ, kiêm nghề dệt lụa gia công cho Nhà nước – thì những nhà, những người thợ thủ công này, cũng có “Sổ gạo”. Bộ đội và ai làm “công nghiệp nặng”, được 21kg mỗi tháng. Ưu tiên sinh viên sư phạm, cũng vậy, còn thì tùy vào nghề mà “ăn” 19kg, 17kg, 15kg mỗi tháng. Giáo viên, thị dân thì được 13,5kg. Trẻ con còn được ít hơn nữa, theo tuổi. Ngoài số lương thực trong “Sổ gạo”, không thể mua thêm ở đâu nữa, trừ khi bỏ tiền ra mà đi ăn… phở hay mì ở ngoài. Thế nên mới có chuyện, khi vợ họa sĩ Nguyễn Quân đặt “Sổ gạo” lên bàn, chán nản thông báo: “Gạo chưa về!”, thì họa sĩ (vốn là con trai duy nhất của một thiếu tướng quân đội ta) cười bảo: “Gạo chưa về, nhưng phở về rồi!”. Thế là cả nhà bỏ tiền ra, đi ăn phở đợi gạo. Mà phở, mì thời ấy, đa số là phở “mậu dịch”, mì “không người lái”- tức là không có một chút thịt nào. Thiểu số có thịt, thì thịt mỡ, thái mỏng, dày gấp chừng năm lần tờ giấy bóng kính, quạt mạnh là bay mất! Nhân viên cửa hàng ăn ngày ấy thái thịt giỏi gấp mấy lần “thằng Mới” trong ngày làng có việc xưa kia. Cũng vì thế cho nên, những làng nấu rượu “quốc lủi” thời đó bị cấm, không được nấu rượu bằng gạo. Ở các làng Vân Hà, Đại Lâm (Hà Bắc thời đó), người ta nấu rượu bằng sắn. Nếu bất ngờ, công an và phòng thuế đến kiểm tra, chỉ cần thấy bã rượu gạo, tức là chủ lò đã “vi phạm chính sách lương thực”, và tất nhiên là không thể tha được.

Nhưng cũng chính vì thế, mà dân Hà Bắc đã đưa được việc nấu rượu sắn lên thành “nghệ thuật”. “Rượu Vân” trở thành “đặc sản” mãi, là vậy.

Một cửa hàng thực phẩm thời bao cấp.

Bên cạnh đó, hình thành cả một nghề là nghề buôn rượu (lậu), chủ yếu là rượu Vân-rượu sắn. Có một người làm nghề này, sau bỏ nghề, kể với tôi: “Cho rượu vào săm ô-tô, thông đồng với cánh lái xe, chở về Hà Nội từ tờ mờ sáng. Đem săm ô-tô rượu để dưới vòi nước công cộng, lấy chân đạp thật lâu, rượu sẽ ngon hơn. Có đứa dã man, còn cho vào săm rượu mấy giọt thuốc trừ sâu Vô-pha-tốc, rồi cho thêm nước lã vào, đạp thật lâu. Rượu uống thấy nặng hẳn, lãi nhiều hơn!”. Trời ơi, Vô-pha-tốc là thuốc độc, cực độc, giờ đã cấm dùng! Từ khi nghe chuyện ấy, tôi và bạn bè tôi uống rượu Vân ít đi, không dám say nhiều như trước nữa. Nhưng rượu Vân không ngon bằng rượu Bắc Hà (Lào Cai) nấu bằng ngô. Rượu men lá Việt Bắc, nhẹ và nhạt! Rượu cần thì phải uống cả đêm, không hợp với phong tục “nhắm rượu” của dân Bắc Hà. Bây giờ dịch thơ Đường, thấy Lý Bạch suốt ngày say, vẫn thọ 62 tuổi, lại nghĩ, ngày ấy mình bớt rượu là dại! Và thấy Vương Tích, cũng là thi nhân đời Đường, viết: “Hôm nay ta say tràn cung mây – Ừ rằng như thế là không hay – Nhưng kìa, thiên hạ không ai tỉnh – Ta tỉnh làm chi giữa đất này?”, lại càng thêm quý rượu.

Nói vòng vo thế, để thấy rằng, “mất Sổ gạo” thật là một thảm họa, và người mất sổ ngơ ngẩn ngẩn ngơ nhất đời, là vì thế.

Trong một cửa hàng ăn uống thời bao cấp.

Bên cạnh “Sổ gạo”- “Sổ lương thực” – là “Tem gạo” và “Phiếu thực phẩm”. “Tem gạo” là để dùng khi đi công tác lẻ hoặc đi phép, có từ loại 100 gam đến 5 ki-lô-gam, 10 ki-lô-gam. “Phiếu thực phẩm” có các loại, từ cao xuống thấp, là A, B, C… N. Sổ loại A mua ở Tôn Đản (phố Tông Đản bây giờ). “Đi xe Vôn-ga, ăn gà Tôn Đản” là thế. Dân thường thì dùng phiếu N. Phiếu chia ô, đánh dấu tháng. Mỗi lần mua thức gì, cắt một ô. Có ô thịt, ô đường, ô mì chính, ô đậu phụ… Thế nên mới có chuyện, một ông tổ trưởng dân phố đi họp nghe phổ biến cách bầu đại biểu Quốc hội, về nhà phổ biến lại cho dân là “Bỏ người ở ô x…”, thì do không chú ý, một bà buột miệng kêu trời: “Thôi chết! Thế là tháng này mất đậu phụ rồi!”. Vì có nhiều loại tem, phiếu như vậy (ngoài “Sổ gạo”, “Phiếu thực phẩm”, còn có “Phiếu chất đốt”, “Phiếu vải” nữa-mỗi người 4m. Phụ nữ thì có tiêu chuẩn mua lụa đen, phíp đen để may quần), nên ở đâu cũng thấy “xếp hàng”. Xếp bằng người, xếp bằng gạch vỡ ở những cửa hàng lương thực, thực phẩm, củi, than; xếp hàng xem phim. Ở thôn quê, mỗi tháng có từ một đến hai buổi chiếu phim, do các tổ chiếu phim lưu động chiếu lần lượt ở các xã. Vé bán 1 hào một người, trẻ con thì 5 xu. Tôi, 11 – 12 tuổi, đi gánh nước thuê cho cụ Hàn ở Hoàng Mai, 40 gánh thì được 2 hào, thừa tiền xem phim. Nhưng có hôm bí, theo bạn xem phim “chui rào”, về bị anh cả bắt thức cả đêm để “kiểm điểm”! Mua “chất đốt” thì tôi lên Cầu Đổ trên phố Đại La xếp hàng. Ở đó bán củi, than – than cám, than “quả bàng” (chưa có than tổ ong như bây giờ). Sau này có cả dầu hỏa để đun bếp dầu. Ở nông thôn thì thôi, cứ đi kiếm củi, cắt rạ, vặt cỏ may, cắt lá chuối, quét lá rụng, giữ trấu… mà đun. Có lẽ không ở đâu trên thế giới này, người ta chế ra nhiều thứ bếp đun như ở ta thời ấy: Bếp dầu có bấc, không bấc. Bếp đun trấu, lò đun trấu – vừa đun vừa gõ cho trấu rơi xuống. Bếp than cám, bếp than quả bàng. Bếp đun rạ, rơm, củi (có nhà làm bếp hai ngăn, như cái lò dài, đun chính ở ngoài, hơi nóng chạy vào đun phụ ở trong). Sau này là bếp điện may-xo, đỏ rực, lộ thiên, như con giun lửa… Ấy thế mà hăng hái công tác và học tập; mà sản xuất và đánh giặc; mà sống và giúp nhau sống; mà vô tư, thanh sạch.

Ngày ấy, ở Hà Nội, nhà nào cũng có bếp dầu và ấm đun nước, gò – hàn bằng ống bơ sữa bò. Có khách, mươi phút là có nước pha trà (phích nước lúc ấy phân phối, không đủ dùng).

Thế nên mới có chuyện, cố thi sĩ Lưu Trọng Lư, khi đó là quyền Tổng thư ký Hội Nghệ sĩ sân khấu (tạm thay cụ Thế Lữ già yếu), Chủ nhiệm Tạp chí Sân khấu, “dại dột” in một bài thơ của tác giả Dũng Hiệp, có câu: “Hoan hô văn nghệ sĩ chúng ta – Uống nhiều nước pha trà, đun bằng ống bơ – Nên thơ ngân vang chất thép”…, và bị “xử lý”- thôi chức! “Con nai vàng ngơ ngác – Đạp trên lá vàng khô”, “Nụ cười đen nhánh sau tay áo”, “Áo đỏ người đem trước giậu phơi”… cũng chẳng cứu được! Chính Lưu Trọng Lư kể cho tôi nghe chuyện đó v.v…

Từ ngày “Đổi mới”, bao sự vừa kể không còn nữa. Đời sống, nói chung, đã tốt hơn nhiều. Nhưng mỗi thời có cái hay, cái dở của nó. Kể đôi lời về thời cũ, chỉ là để “ôn cố – tri tân”. Cái triển lãm “Một thời bao cấp” do ông tiến sĩ Nguyễn Văn Huy, con cụ Nguyễn Văn Huyên, cựu Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học, là một triển lãm hay. Ai không xem, kể cũng tiếc!

Cái nước mình hay thật! Dân mình còn hay hơn: Thế nào thì cũng tìm ra “phương thức tồn tại” của mình. Sinh con đẻ cái, dựng vợ gả chồng, xây nhà xây cửa, trồng trọt chăn nuôi (cả trong toa-lét tập thể!), làm thơ và đánh giặc… không thua ai việc gì! “Bần tiện bất năng di”. Ta là “Quân tử” thật!

Có lẽ, chỉ có thời bao cấp mới đẻ ra lắm anh hùng kiểu ấy. Bây giờ lại có anh hùng kiểu khác!

Đỗ Trung Lai

Ảnh trong bài: Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
qdnd.vn

About these ads