Tướng Uây-y-en và lối thoát khỏi cuộc chiến ở Việt Nam

LTS: Tướng Uây-y-en (1916 – 2010), Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ (1973 – 1976) được sách báo phương Tây đề cập nhiều trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam.

Cùng các lính Mỹ đầu tiên dấn vào chiến tranh cục bộ ngay từ năm 1965, Uây-y-en còn bộc lộ tư duy về chính trị, thể hiện trong vai trò cố vấn quân sự cho phái đoàn Hoa Kỳ tại Pa-ri (1969 – 1970). Quay lại Việt Nam, Uây-y-en làm tướng “Việt Nam hóa”, rồi tiễn các đơn vị Mỹ cuối cùng, trên cương vị tư lệnh “cuốn cờ” của Mỹ ở đây đầu năm 1973.

Trước khi từ trần, Uây-y-en đã chính thức xác nhận năm 1967 ông từng chủ động làm một vụ “Wikileaks”, vạch rõ tình thế sa lầy trong khi phe quân sự Mỹ đang tưng bừng về một “chiến thắng trong tầm tay”.

“Thổ công” chiến trường Nam Á

Khởi đầu binh nghiệp đầu Thế chiến II trong một đơn vị pháo bờ biển, một biên chế được xem là không có tương lai, chàng trai tốt nghiệp hệ sĩ quan dự bị F. Uây-y-en đã lọt vào ngành quân báo Mỹ sau một khóa học Chỉ huy – Tham mưu.

Tư lệnh Mỹ Oét-mo-len gắn thêm một sao lên lon tướng cho Uây-y-en,1967. Ảnh: Lưu trữ Quân đội Hoa Kỳ.

Uây-y-en tham gia chỉ đạo mạng tình báo quân sự chiến trường Trung Hoa – Miến Điện – Ấn Độ những năm 1944 – 1945, rồi trở thành trưởng ngành tình báo Hạm đội Trung Thái Bình Dương (Middle Pacific) ngay sau đó. Chuyển sang làm tiểu đoàn trưởng bộ binh “khi xe tăng Kim Nhật Thành vượt vĩ tuyến 38”, Uây-y-en kết thúc chiến tranh Triều Tiên trên cương vị Trợ lý tham mưu Sư đoàn 3 bộ binh Hoa Kỳ. Với hai huân chương trên ngực, Uây-y-en thách thức các sĩ quan “huênh hoang” đến từ Oét Poi (West Point), trong mỗi kỳ xét bổ nhiệm vào một cương vị trọng yếu.

Nhưng Uây-y-en kiên trì với một cung cách “ngoài mềm, trong rắn” trong suốt đời binh nghiệp. Trong “Lời nói dối hào nhoáng” (A Bright Shining Lie), Neo-lơ Si-han (Neil Sheehan) đã đặc tả Uây-y-en như sau:

“Uây-y-en có được ngoại hình thuận lợi: Đẹp trai, cao gần hai mét. Phong thái cởi mở một cách đúng mực, vừa trung thực vừa khôn khéo, không chuộng nghi thức, thân ái. Ông không chờ các sĩ quan trẻ hoặc binh lính chào mình, mà chào họ trước”.

Chân ướt, chân ráo trên cương vị tư lệnh Sư đoàn bộ binh 25 đóng tại đảo Ha-oai, Uây-y-en cùng “Tia chớp nhiệt đới” (biệt hiệu của sư đoàn này) tham chiến ở Đồng bằng sông Cửu Long từ năm 1965. Từ năm 1967, Uây-y-en là phó, quyền, rồi tư lệnh Dã chiến quân II (II Field Force, Vietnam, tồn tại từ 1966 đến 1973), chịu trách nhiệm vùng chiến thuật III, gồm 11 tỉnh “vành đai” quanh Sài Gòn.

Là đơn vị cấp quân đoàn, nhưng Dã chiến quân II gồm tới 4 sư đoàn (“Anh cả đỏ” – Sư đoàn BB số 1; “Tia chớp nhiệt đới”; Sư đoàn BB Mỹ số 9, Sư đoàn không vận số 101), 5 lữ đoàn trong đó có Lữ đoàn thiết giáp số 11, Lữ đoàn không chiến số 12, 3 lữ đoàn kỵ binh bay và không vận; hai binh đoàn pháo binh, các đơn vị quân đội Ô-xtrây-li-a và quân đội Thái Lan, và các binh đội thuộc Sở chỉ huy đóng tại Long Bình. Các đơn vị này tham chiến trong phản công năm Mậu Thân, và cuộc xâm nhập Cam-pu-chia năm 1970.

Ngoài ra, trên cương vị tư lệnh Dã chiến quân II, Uây-y-en còn dùng chung các “quả đấm thép”, như Sư đoàn kỵ binh bay số 1, Lữ đoàn không vận 173, cùng với Dã chiến quân I (phạm vi tác chiến là vùng chiến thuật II, hay khu vực Tây Nguyên). Dã chiến quân I (1966 – 1971) gồm Sư đoàn BB 4 và hai lữ đoàn BB), có Sở chỉ huy đặt tại Nha Trang.

“Cứu tinh” của Oét-mo-len

Sách “Tết: bước ngoặt của chiến tranh Việt Nam” (xuất bản 1971) của Đon-Ô-bơc-đô-phơ (Don Oberdofer) liệt kê 7 khả năng mà nếu xảy ra, “Việt Cộng” đã có thể kết thúc thắng lợi cuộc chiến. Trong đó có một khả năng là: Nếu tướng Uây-y-en không chuyển các tiểu đoàn Mỹ quanh Sài Gòn trở lại trạng thái phản ứng linh hoạt.

Sách Năm 1968 (Nineteen Sixty-Eight. NXB Boston Publishing Company, 1983), cho hay Uây-y-en, một cựu sĩ quan tình báo, đã nghi ngờ về cung cách hoạt động của “Cộng quân” đầu năm dương lịch 1968 tại vùng ông chịu trách nhiệm (quanh Sài Gòn), và báo cáo lên Oét-mo-len hôm mồng 10 tháng Giêng. Oét-mo-len chấp thuận đánh giá của Uây-y-en, và lệnh cho rút 15 tiểu đoàn Mỹ đang triển khai ở ven biên giới với Cam-pu-chia trở lại bổ sung cho tuyến phòng thủ Sài Gòn.

Sách Lời nói dối hào nhoáng, xuất bản năm 1989, dẫn dắt một quá trình “phá bóng cứu nguy” phức tạp hơn bởi Uây-y-en.

“Kế hoạch tác chiến năm 1968 của Oét-mo-len dựa vào luận thuyết Việt Cộng và quân Bắc Việt không chịu nổi những đòn tấn công tại miền Nam Việt Nam. Cũng vì vậy, các tỉnh thuộc trung tâm vùng chiến thuật III (quanh Sài Gòn) được Mỹ lên kế hoạch chuyển giao cho quân đội Nam Việt Nam… Nếu Uây-y-en bố trí quân đúng theo kế hoạch chiến dịch dọc biên giới với Cam-pu-chia, phần lớn 43 tiểu đoàn bộ binh và thiết giáp của ông sẽ dầm mưa trong rừng nhiệt đới vào dịp Tết Mậu Thân …

Uây-y-en không đồng tình với quan điểm làm chiến tranh của Oét-mo-len, không muốn nhập bè với sự hả hê của Tổng hành dinh (về các chiến dịch của quân Mỹ) …

Uây-y-en chống lại kế hoạch của Oét-mo-len ngay từ mùa thu trước (1967). “Kế hoạch này vĩ đại nhưng không khả thi”, Uây-y-en nói với viên đại tá đến thông báo kế hoạch của Lầu Năm Góc phương Đông cho ông. Điều Uây-y-en quan tâm nhiều nhất, là khi ông phải dẫn quân đến biên giới Cam-pu-chia, theo những nguồn tin tình báo tin cậy, các binh đoàn chủ lực Việt Cộng lại đang rời căn cứ vùng biên giới với Cam-pu-chia theo chiều ngược lại, thâm nhập vào các tỉnh đông dân gần Sài Gòn…

Cùng A-bram (Abrams) đi gặp Oét-mo-len, Uây-y-en trình bày trên bản đồ: “Tôi thấy quân VC từ đây tiến về trung tâm”, ông chỉ vào vùng Sài Gòn – Biên Hòa. “Tôi không biết họ nghĩ gì, nhưng thấy rõ một cuộc tấn công đang sắp bắt đầu”. Rồi đề xuất ngày khởi đầu chiến dịch năm 1968 nên để chậm lại.

…Tổng chỉ huy Mỹ chấp nhận, vì Uây-y-en chỉ đề nghị hoãn, chứ không đòi bỏ kế hoạch tác chiến năm 1968. Oét-mo-len đang có một nỗi lo lớn hơn: Phe cộng sản Việt Nam có vẻ đang tìm cách biến Khe Sanh thành một Điện Biên Phủ thứ hai …”.

Sách Lời nói dối hào nhoáng kết luận:

“ … Cố giữ quân của mình lại, Uây-y-en có lẽ đã cứu được Sài Gòn khỏi bị chiếm. Nhưng cái không cứu được là cuộc chiến tranh. Oét-mo-len đã thua trận. Thành quả cuối cùng nghiệp làm tướng của Uây-y-en trong cuộc khủng hoảng này, mỉa mai thay, lại là kéo dài một cuộc đụng độ không thể thắng”.

“Chim báo bão”

Tháng 8-1967, tờ báo Mỹ The NewYork Times (NY) đăng bài viết “Việt Nam: Những dấu hiệu tắc đường”, (Vietnam: The Signs of Stalemate) cho rằng, chiến tranh Việt Nam đang lộ rõ “những nước cờ bí” (stalemate) trong chiến lược của Mỹ, bất chấp Nhà Trắng quyết định tăng quân:

“1 triệu 20 vạn quân Đồng minh (phe Mỹ) hiện vẫn đang cố giữ một phần của một đất nước bé hơn bang New York tới 1,5 lần”, NY viết. Để đạt được kết quả về bình định, quân số lực lượng đồng minh cần đạt tới 8 triệu người (khoảng 16 triệu dân miền Nam), rằng cuộc chiến sẽ kéo dài hàng chục năm, các quan chức cao cấp Mỹ tiết lộ với tác giả bài báo. Cùng kỳ, Hãng CBS “chạy” một phóng sự tương tự.

Điều này khớp với nhận định của Hà Nội ngay từ đầu năm 1967: Hiện có một sự “chập chững”, “lúng túng về chiến lược” của Mỹ (chữ dùng trong điện mật số 00, 23-11-1967 của Bộ Chính trị gửi Trung ương Cục và Khu V).

Cuối năm 2006, NY trong bài viết “Hãy nêu tên nguồn tin” (Name that source)[1], tự đánh giá sự kiện tiết lộ “thế bí” của Mỹ ở Việt Nam năm 1967 là “một quả bom dội lên cả Oa-sinh-tơn lẫn Sài Gòn, gây kinh hoàng cho quân đội và cộng đồng tình báo, tạo biến chuyển từng bước nhận thức của Mỹ trong phần còn lại của cuộc chiến”.

Bài báo đời người

Biên tập viên NY W. Ép-pô (W. Apple), chính là người chấp bút bài “Việt Nam: Những dấu hiệu tắc đường” cho rằng đây là phóng sự quan trọng nhất của đời ông. Cho dù chưa thể xác định được nó đã ảnh hưởng đến mức nào tới quyết định bỏ cuộc đua vào Nhà Trắng của L. Giô-xơn (L. Johnson).

Trong suốt 4 thập kỷ, NY viết tiếp, nhiều sử gia và ký giả đã yêu cầu các tác giả bài “Việt Nam: Những dấu hiệu tắc đường” tiết lộ danh tính của quan chức đã cung cấp tư liệu cho phóng sự đó, nhưng bị từ chối, do một lời thề từ năm 1967 với một “tướng Mỹ thông thái”, có khả năng tư duy nhiều chiều, khó có thể gặp được gặp ở Việt Nam, lẫn trong các cuộc chiến khác của Mỹ về sau. Thời đó, viên tướng này tiết lộ: “Oét-mo-len vẫn chưa vỡ ra được rằng Mỹ không thể thắng cuộc chiến này. Chúng ta đã lâm vào ngõ cụt. Phải tìm lối thoát trong danh dự”.

Năm 1984, trong vụ Oét-mo-len kiện hãng CBS đã vu cáo ông đã cố đánh giá thấp Bắc Việt và Việt Cộng nhằm ngụy tạo một “thắng lợi”, các luật sư đã đề nghị viên cựu tư lệnh Mỹ ở Việt Nam này nghe một đoạn trích, trong đó một tướng Mỹ đã khẳng định thắng lợi nằm ngoài tầm với của Mỹ (victory is beyond reach, the war is unwinnable). Oét-ty (Westy-gọi tắt Oét-mo-len) đã giãy nảy lên, nói rằng không một tướng Mỹ dưới quyền nào có thể nói như vậy.

Năm 1995, các tác giả của bài “Việt Nam: Những dấu hiệu tắc đường” đã có dịp gặp lại viên tướng Mỹ đã cấp “bom” tin tức cho họ năm 1967, và đề nghị ông giải phóng họ khỏi nghĩa vụ bảo mật nguồn tin. Người hùng giấu mặt này vẫn lưỡng lự. “Hãy chờ khi Westy từ giã cõi đời”.

Oét-mo-len từ trần năm 2005. Một năm sau, được tin phóng viên W. Ép-pô cũng vừa tạ thế, Uây-y-en, chính là tướng ba sao Uây-y-en, đã chính thức nói với NY rằng từ nay ông sẽ chấm dứt sự “giấu mặt” gần bốn thập kỷ, để xác nhận mình từng rung chuông báo cuộc chiến ở Việt Nam “là một cuộc phiêu lưu tuyệt vọng”.

Tưởng niệm Uây-y-en trong một bài báo năm 2010, NY cho rằng, Uây-y-en là tướng lĩnh cấp cao đã đủ dũng khí và trí tuệ, để sớm tạo nguồn có “sức công phá”cho báo giới, gieo những nghi ngờ nghiêm trọng về cuộc phiêu lưu ở Việt Nam vào công luận Mỹ, làm điên tiết những ai đang ca bài “chiến thắng”, như tướng Oét-mo-len và tổng thống Johnshon.

Định mệnh đã giao cho “tướng chiến trận” Uây-y-en cả những sứ mệnh ngoại giao, như trông nom cuộc rút quân có kèn trống “trong danh dự”, như chính ông từng tiên liệu năm 1967. Để “dứt áo ra đi”, NY nhớ lại, Uây-y-en thậm chí từng phải khẳng định quân đội Sài Gòn rồi sẽ thắng đối phương, sau khi quân Mỹ triệt thoái hoàn toàn khỏi chiến trường Việt Nam

Lê Đỗ Huy (tổng hợp)
qdnd.vn

About these ads