Phụ lục: Trung Quốc và thanh niên Trung Quốc

TRUNG QUỐC VÀ THANH NIÊN TRUNG QUỐC78

Sách do một nhóm sinh viên Trung Quốc biên soạn, Nguyễn ái Quốc chủ biên, viết bằng tiếng Pháp, Pêtrôva Sua dịch sang tiếng Nga, Nhà xuất bản Mátxcơva mới xuất bản lần đầu tiên tại Mátxcơva (Liên Xô) nǎm 1925.

Dịch theo cuốn sách tiếng Nga in lần đầu tiên

TRUNG QUỐC VÀ DÂN SỐ CỦA NÓ

Theo thống kê gần đây nhất, dân số Trung Quốc lên đến 437.000.000 người. Diện tích của nó là 11.138.900 km 2 nghĩa là lớn hơn một chút so với diện tích châu Âu và gần bằng 1/15 tổng bề mặt quả đất.

ở Tây Tạng và Mông Cổ giá rét rất dữ dội, và những vùng sa mạc kéo dài bất tận. Cho đến tận bây giờ ở đấy dân cư vẫn sống cuộc đời du cư, du mục. ở miền Nam và miền Đông ruộng đất hết sức phì nhiêu. Những con sông lớn như Hoàng Hà, Dương Tử và những con sông khác chạy dài mấy nghìn kilômét và tưới nước cho các cánh đồng lúa nằm dọc theo các dòng chảy của chúng. Trung Quốc chủ yếu là nước nông nghiệp.

Trung Quốc có nhiều tài nguyên dưới lòng đất hơn các nước khác. Người ta cho rằng chỉ riêng các mỏ than đá của nó ở Sơn Tây cũng có thể đủ thoả mãn nhu cầu của toàn thế giới về than đá trong 2 nghìn nǎm. Tại nhiều tỉnh có những mỏ lớn chứa kẽm, chì, đồng và các kim loại khác mà cho đến nay vẫn chưa được bắt đầu khai thác.

Sự phát triển xã hội Trung Quốc tập trung dọc theo lưu vực các con sông lớn. Ngay từ thời rất xa xưa, lưu vực những con sông ấy đều có dân cư đông đúc, các cơ chế xã hội đã đạt trình độ vǎn minh cao, trong khi dân cư ở những vùng khác vẫn còn chìm ngập trong tình trạng mông muội nhất.

Tại sao Trung Quốc, trái với các quy luật phát triển, cho đến nay vẫn là nước lạc hậu về kinh tế? Có nhiều nguyên nhân. Một mặt, những bộ lạc du mục hiếu chiến của Mông Cổ và Mãn Thanh thường xuyên tấn công Trung Quốc. Mặt khác, Trung Quốc không những thường hay bị thiên tai như bão lốc, lụt lội v.v., mà còn chịu khổ vì bộ máy thư lại rất tồi tệ, đặc biệt trong những thế kỷ gần đây, gây nên những cuộc nổi dậy và nội chiến liên miên. Vị trí địa lý của Trung Quốc cũng thúc đẩy sự lạc hậu của nó. Những vùng sa mạc rộng lớn ở phía Bắc, những vùng bǎng tuyết vĩnh cửu ở phía Tây, những vùng biển cả to lớn ở phía Nam và phía Đông đã không tạo khả nǎng có những quan hệ với các dân tộc khác. Nếu cộng vào đó tinh thần ưa chuộng lối sống đồng quê và thiếu tinh thần tháo vát, đặc trưng cho người Trung Quốc, thì chúng ta sẽ dễ dàng hiểu rõ nguyên nhân của tình trạng trì trệ của Trung Quốc. Toàn bộ đời sống trí tuệ của người Trung Quốc đều thấm đượm tinh thần triết học và giáo lý của Khổng Tử. Lòng tôn kính cha mẹ, tình anh em, tình bạn trung thành, sự hoà thuận giữa mọi người, đều hoặc rút từ quan điểm của Phật – tẩy rửa con tim và khối óc, sự kiềm chế những dục vọng và lòng cuồng nhiệt, v.v.. Chúng tôi, những người mácxít trẻ tuổi, cho rằng, mọi thứ đạo đức xã hội chỉ là sự phản ánh các điều kiện kinh tế và do vậy, những ai muốn hoàn thiện tâm hồn thì phải bắt đầu từ việc hoàn thiện các điều kiện vật chất của cuộc sống. Các truyện thần thoại cổ đều nói đến lòng nhân từ khác thường của hàng loạt gia tộc và của từng cá nhân, nhưng tất cả những cái đó không thể làm thoả mãn chúng tôi, bởi vì chúng tôi biết rằng, những truyện cổ tích chưa biết đến chủ nghĩa tư bản nước ngoài và không tiên đoán được cuộc đấu tranh giai cấp.

LịCH Sử LâU ĐờI CủA TRUNG QUốC

Lịch sử Trung Quốc đã mở đầu từ 2.500 nǎm trước Công nguyên, nhưng chỉ đến nǎm 2357 chúng ta mới tìm thấy những chỉ dẫn đầu tiên về con người và những sự kiện. Từ nǎm 2357 đến nǎm 2261, Trung Quốc nằm dưới sự cai trị của vua Nghiêu là vị hoàng đế anh minh và nhân từ.

Vào khoảng nǎm 1740, nạn lụt khủng khiếp đã nhấn chìm đất nước. Hồi đó thượng thư trông coi các công việc xã hội là Vũ đã thắng nạn lụt; ông đã 9 nǎm đào kênh và đắp đập. Nhờ những công lao của mình, ông đã được chọn làm hoàng đế. Những người kế vị ông đã tỏ ra không được tài ba lắm và không được nhân từ lắm, vì vậy, triều đại này đã bị cuộc cách mạng nǎm 1783 lật đổ.

Sau triều đại Vũ đến triều đại Thương cầm quyền từ nǎm 1783 đến nǎm 1134.

Sau các triều đại đó là triều đại nhà Chu. Vào những đời vua đầu của triều đại này, người Triều Tiên và người An Nam ngưỡng mộ trước sự lừng lẫy của các vị quốc vương vĩ đại ấy, đã cử các sứ thần của mình đến triều đình của hoàng đế Trung Hoa. Chu Công, thái tử kế ngôi, vừa là một vị thượng thư và nhà bác học vĩ đại, đã tặng dân An Nam tặng phẩm – đó là chiếc la bàn. Sự kiện vĩ đại nhất diễn ra vào cuối các đời vua của triều đại này là sự xuất hiện 3 vĩ nhân – Khổng Tử, Lão Tử và Mạnh Tử. Mạnh Tử là một lý luận gia cách mạng của thế hệ ông bởi vì ông là tác giả đầu tiên của câu nói: “Dân là tất thảy, vua không là gì cả”.

Vào khoảng nǎm 246, triều đại nhà Chu đã bị triều đại Tần thay thế. Chúng ta chịu ơn nhà sáng lập ra triều đại này về một trong những “kỳ quan của thế giới” – bức Vạn lý trường thành 79 . Ông là người rất có nghị lực và một nhà cách tân lớn. Ông đã thủ tiêu chế độ phong kiến 1 và thống nhất Trung Quốc, ông đã đào kênh, xây dựng đường sá để giúp cho công việc giao thông được dễ dàng. Để thắng bọn bảo thủ chống lại chính sách của mình, ông đã thi hành những biện pháp đơn giản nhất và tích cực nhất: ông đã ra lệnh đốt hết sách, trừ sách về y học và thiên vǎn và bắt giam tất cả những ai phê phán mình. Triều đại này đã tồn tại không lâu, đến nǎm 206, nó đã bị triều đại Hán thay thế.

Vị vua đầu tiên của nhà Hán đã làm khác hẳn người sáng lập ra triều đại Tần. Ông vua đó đã khuyến khích việc nghiên cứu thời cổ đại và dành cho các môn khoa học một vị trí quan trọng trong nước mình. Nhờ triều đại này, Trung Quốc đã có được một trong những thời đại chói lọi nhất và hạnh phúc nhất. Nghệ thuật, vǎnhọc và triết học đã đạt đến trình độ phát triển thịnh vượng nhất.Đến thời đại ngày nay còn lại chiếc cầu treo tuyệt vời – di tích về nghệ thuật kiến trúc thời nhà Hán – đó là công trình đầu tiên của nghệ thuật kiến trúc. Vào thời kỳ những nǎm 150 – l08, trong thư viện quốc gia đã có đến 3123 tác phẩm kinh điển, 2705 cuốn sách về triết học và 1383 tập thơ ca. Trong thời kỳ trị vì của triều đại này có một sự kiện lịch sử đặc sắc – đó là sự du nhập của đạo Phật vào Trung Quốc diễn ra trong 58 nǎm trước công nguyên.

Từ nǎm 220 đến nǎm 618, ở Trung Quốc đã diễn ra cuộc nội chiến kéo dài mà hậu quả là triều đại nhà Hán sụp đổ và triều đại Đường lên thay.

Có một nhà sư ở thời đại ấy đã mở cuộc hành trình đến ấn Độ. Khi đi, ông đi bộ, khi về thì bằng thuyền. Cuộc hành trình đã kéo dài 14 nǎm. Triều đại nhà Đường đã lừng lẫy nhờ nền vǎn học đặc biệt chói lọi. Quan hệ quốc tế được mở rộng, và vào khoảng nǎm 907, đã có các đại sứ Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Tư và La Mã hoạt động bên cạnh triều đình hoàng đế.

Sự kiện kinh tế quan trọng nhất là sự xuất hiện tiền giấy vào khoảng nǎm 960.

Triều đại nhà Tống thay thế nhà Đường và trị vì Trung Quốc cho đến nǎm 1276, là khi nó bị người Mông Cổ lật đổ.

Từ nǎm 1280 đến nǎm 1290, Trung Quốc đã tiến hành cuộc chiến tranh đầu tiên với nước ngoài là Nhật Bản. Nhà Minh đã đánh đuổi được quân Mông Cổ và ở lại ngôi vua cho đến nǎm 1644. Ngoài việc soạn thảo bộ luật và những cải cách khác, nhà Minh đã làm được rất nhiều trong lĩnh vực giáo dục. Bộ Bách khoa toàn thư gồm 22.877 tập, cùng với danh mục 60 tập đã được xuất bản nǎm 1407.

Vào những nǎm 1511-1517, đã có 2 người Bồ Đào Nha là Pêrêxtơrala và Đôn Đờ Analađa đến Trung Quốc. Đó là bước mở đầu của sự xâm nhập của nền thương mại phương Tây và là sự xuất hiện đầu tiên của chủ nghĩa tư bản nước ngoài. Trong khi những nhân vật Bồ Đào Nha ấy ký kết các hợp đồng thương mại thì đồng bào của họ có mặt tại các cảng Trung Quốc đã lừa đảo dân bản xứ và sử dụng vũ khí cưỡng bức thô bạo nhằm chinh phục họ: chúng đã tàn phá hàng loạt làng mạc. Nǎm 1552, các vùng ngoại vi của Trung Quốc đã bị người Nhật tấn công. Sau 40 nǎm, người Nhật lặp lại những hành động ấy, nhưng lần này họ bǎng qua ngả Triều Tiên. Cuộc chiến tranh đã kéo dài 3 nǎm và Trung Quốc đã thắng. Chính vào thời kỳ này đã diễn ra vụ tàn sát 20.000 người Trung Quốc ở Philíppin do các thương gia Tây Ban Nha thực hiện.

Triều đại Mãn Thanh bắt đầu từ nǎm 1644 và kết thúc vào nǎm 1911 vào ngày nổ ra cuộc Cách mạng Trung Quốc.

SỰ XÂM NHẬP CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NGOẠI QUỐC VÀ NHỮNG CUỘC KHỞI NGHĨA ĐẦU TIÊN

Nǎm 1635, Vua nước Anh Sáclơ I đã cử thuyền trưởng Vêđen với giấy phép được tiến hành công việc buôn bán ở Quảng Châu. Công xưởng đầu tiên của Anh đã được xây dựng tại hải cảng này vào khoảng nǎm 1681. Đến nǎm 1728 ở Bắc Kinh đã xây dựng trường trung học đầu tiên để dạy tiếng Trung Quốc cho người Nga.

Nǎm 1742, chiếc tầu chiến đầu tiên của Anh “Xenturiông” đã đến Trung Quốc. Đại sứ Anh, huân tước Macácnây đã đến Bắc Kinh nǎm l792. Đến nǎm 1830, một đại sứ Anh khác, huân tước Nêpirơ, đã xin phép được nhập cảng thuốc phiện. Nhưng đã bị khước từ. Nhưng 6 nǎm sau đó người Anh nhập lậu 20.280 thùng thuốc phiện vào những vùng được phép buôn bán thuốc phiện. Để buộc Trung Quốc chấp nhận thứ thuốc độc này, nước Anh đã tuyên chiến vào nǎm 1839, và đến nǎm 1841 thì Quảng Châu bị hạm đội Anh bao vây 80 .

Sau khi ký hoà ước, Hồng Công bị tách khỏi Trung Quốc, còn Phú Châu, A Môi, Ninh Ba và Thượng Hải đã được mở cửa cho chủ nghĩa tư bản ngoại quốc thâm nhập vào. Trung Quốc đã buộc phải trả khoản đền bù chiến tranh 21.000.000 đôla, trong đó có 6.000.000 được dùng để bù vào giá trị số thuốc phiện đã bị huỷ đi.

Đến nǎm 1856, nước Anh lại một lần nữa tuyên chiến với Trung Quốc để buộc nước này mở cửa 5 hải cảng mới dành cho công cuộc buôn bán và hợp pháp hoá việc mua bán thuốc phiện.

Nǎm 1860, quân đội Anh – Pháp đã tràn vào Bắc Kinh, đốt phá các cung điện, ngọn lửa của đám cháy đã hoành hành trong mấy ngày liền. Nǎm 1885, cuộc chiến tranh Pháp – Trung Quốc 81 đã chấm dứt với việc ký hoà ước ở Thiên Tân quy định vùng phía nam là An Nam thuộc quyền cai trị của người Pháp. Nǎm 1894, cuộc chiến tranh do Nhật Bản tiến hành đã giải phóng Triều Tiên khỏi ách thống trị của Trung Quốc, nhưng đã đặt nó dưới quyền của “Đế quốc Mặt trời mọc”. Nǎm 1898, nước Đức tuyên chiến với Trung Quốc và chiếm vùng Thanh Đảo.

Nǎm 1900, có cuộc khởi nghĩa của Nghĩa hoà đoàn, sự phẫn nộ của những phần tử dân tộc chủ nghĩa bị đẩy vào tâm trạng tuyệt vọng do sự ǎn cướp của bọn người ngoại quốc, khiến cho Trung Quốc đã phải trả cái giá là 450.000.000 taen 1 bồi thường chiến tranh mà quân đội các nước đồng minh đã bắt nó phải gánh chịu.

Sau tất cả những cuộc tấn công kế tiếp nhau ấy, Trung Quốc bị hoàn toàn khánh kiệt, bị trói buộc về kinh tế và chính trị bởi các cường quốc đế quốc chủ nghĩa. Vẫn chưa thoả mãn với những đặc quyền của mình những lãnh địa tô nhượng, các hải cảng được tô nhượng đã mở cửa để họ tiến hành công cuộc thương mại, các cường quốc ấy đã nắm lấy tất cả các điểm chiến lược, các đường trên biển và trên bộ, chia nhau những khoản thu thuế hải quan và các khoản thuế gián thu, chiếm lấy các nguồn tài nguyên kinh tế. Tóm lại, Trung Quốc biến thành con mồi của chủ nghĩa tư bản ngoại quốc.

Nền độc lập của Trung Quốc chỉ là một danh từ trống rỗng. Trên thực tế nó là một nước thuộc địa. Sự cai trị thuộc về các cơ quan ngoại giao nước ngoài đóng tại đây. Không có một hành động chính trị nào ở trong nước hoặc ở ngoài nước xuất phát từ Chính phủ Trung Quốc mà lại không thể hiện ý chí của các cường quốc đế quốc chủ nghĩa. Nếu như sự kình địch nhau và lòng ghen tức của các cường quốc ấy đã khiến cho Trung Quốc tránh khỏi bị hạ xuống hàng thuộc địa, thì dù sao các cường quốc ấy cũng duy trì cuộc hiềm thù bên trong Trung Quốc. Mỗi cường quốc đế quốc chủ nghĩa đều có một tay sai Đugiuyn (thống đốc) nào đó mà thực chất là đại biểu cho một hình thức tồi tệ nhất của chế độ quân phiệt Trung Quốc. Những con người ấy gây hiềm thù với nhau, cắn xé nhau, làm khánh kiệt hàng loạt vùng, qua đó, tạo ra tình trạng không vững chắc ở trong nước và tạo duyên cớ cho người nước ngoài can thiệp vào công việc nội bộ của Trung Quốc.

Chính sách kinh tế của Chính phủ Trung Quốc trước khi triều đại nhà Mãn Thanh đổ, và cho đến tận bây giờ, chỉ quy tụ vào một điều: đi vay để mà sống. Số nợ của quốc gia vào nǎm 1922 là 2.500 triệu taen (l,9 tỷ đôla). Tất cả các khoản thu nhập chủ yếu nhất là: thuế cửa khẩu, thuế muối, đường sắt, hầm mỏ, v.v., đều do người ngoại quốc kiểm soát, nghĩa là họ mua hết. Mười hai nghìn kilômet đường sắt đã được xây dựng hầu như hoàn toàn bằng các khoản vốn của nước ngoài.

Còn tình cảnh của giai cấp vô sản Trung Quốc thì như thế nào dưới sức ép của chủ nghĩa tư bản ngoại quốc ? Chỉ cần nhìn qua số liệu thống kê về thương mại, chúng ta cũng có thể thấy rõ toàn bộ tình trạng nghèo khổ của giai cấp vô sản Trung Quốc. Hằng nǎm, nhập siêu ít nhất là từ l00-200 triệu taen. Đó là tình trạng bòn rút thường xuyên tiền của Trung Quốc ra nước ngoài, nó không tránh khỏi đưa đến chỗ làm đất nước nghèo đi, và còn dẫn đến một hậu quả to lớn hơn: hàng hoá nước ngoài tràn ngập thị trường nội địa và tạo ra tình trạng cạnh tranh không thương xót gây nguy hại cho hàng hoá nội địa, dĩ nhiên đó là những hàng hoá ít tân kỳ hơn và đắt hơn. Như vậy, khối quần chúng thợ thủ công bị phá sản và trở thành vô sản.

Bọn quan cai trị của Mãn Thanh kiên quyết chống lại tiến bộ hiện đại. Mặc dù bị sỉ nhục và chịu những sự thua thiệt do ngoại quốc gây ra, bọn quan lại đó đã không biết cách và không muốn thực hiện bất kỳ những cải cách nào hết. Bọn chúng không chịu để nhân dân tiếp xúc với sinh hoạt quốc tế ngày nay, chúng dấn thân vào chính sách ngu dân quan liêu kiểu “chúa đất” ghê tởm. Trong chính sách đối ngoại, chúng tiến hành các cuộc chiến tranh bất hạnh; trong chính sách đối nội, thì chỉ thấy những cuộc bất bình vô tận của nhân dân. Nǎm 1795, đã nổ ra cuộc nổi loạn của phong trào “Bạch liên giáo” 82 . Phong trào “Tam điểm” đã phát động cuộc khởi nghĩa nǎm 1842. Cuộc khởi nghĩa Thái Bình nǎm 1849 đã làm cho chính ngai vàng của “Thiên tử” phải lung lay. Cuộc khởi nghĩa của dân Hồi; giáo đã kết thúc bằng cuộc chém giết nǎm 1859.

Cuộc khởi nghĩa của phong trào Nghĩa hoà đoàn nǎm 1900 đã kết thúc rất bi thảm đối với nhân dân Trung Quốc và rất nhục nhã cho bọn chiến thắng. Bắc Kinh đã trở thành miếng mồi cho bọn binh lính hung hãn của 8 dân tộc “vǎn minh”. Có thể thấy được các ông tai to mặt lớn với các sứ mạng vẻ vang nhưng đã biến thành những tên cầm đầu các bǎng cướp bóc. Những quan chức cao cấp đã ngang nhiên cướp đi các tác phẩm nghệ thuật để đem về trang hoàng cho các bảo tàng quốc gia nước mình hoặc cho những tư nhân ham mê sưu tập. Cuộc khởi nghĩa của phong trào Nghĩa hoà đoàn nổ ra do bị áp bức và do thái độ hống hách không thể chịu nổi của chủ nghĩa đế quốc nước ngoài. Nhưng do thiếu kế hoạch và thiếu sự lãnh đạo sáng suốt cho nên phong trào này, về bản chất mang tính chất chống quân phiệt và mang tính chất dân tộc, lại đi vào con đường của chủ nghĩa cuồng tín tôn giáo. Đó là sự lầm lạc không thể tránh khỏi và đặc trưng cho tất cả các dân tộc đã bị biến thành thuộc địa hoặc đang bị đe doạ biến thành thuộc địa, các dân tộc ấy ra sức, một cách tuyệt vọng và vụng về, thoát ra khỏi ách thống trị của ngoại bang! Khoảng nǎm 1867, đứng trước nguy cơ bị Nga- Mỹ xâm lấn, người Nhật đã phát động phong trào “chống dã man” cũng mang tính chất cuồng tín như thế, y như phong trào nǎm 1900 của Trung Quốc.

ở miền Nam, người Trung Quốc đã có quan hệ với người ngoại quốc từ sớm hơn nhiều so với ở miền Bắc: họ xuất dương để di cư đông đến hàng vạn người, họ làm việc và sinh sống tại các nước tư bản chủ nghĩa. Do vậy, họ đã hiểu rõ hơn – so với đồng bào của mình ở miền Bắc – về ý nghĩa cuộc đấu tranh giữa bọn đi bóc lột và những người bị bóc lột. Họ là những người trước nhất hiểu rõ tính chất vô hiệu của uy quyền hoàng đế và tư tưởng bảo thủ của hoàng đế, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng suy yếu của đất nước và sự thống trị của ngoại bang. Như vậy, họ đã tìm đến tận cội rễ của bất hạnh. Họ đã dùng cách mạng lật đổ chế độ quân chủ. Giờ đây họ cố tìm cách thoát khỏi nanh vuốt của chủ nghĩa đế quốc nước ngoài bằng công tác tự tổ chức về kinh tế. ở đây chứa đựng nguyên nhân cho thấy tại sao các cường quốc tư bản chủ nghĩa ưa thích Chính phủ miền Bắc hơn. Chính phủ này luôn luôn thoái hoá và thường hay bị mua chuộc, mà lại không thích Chính phủ miền Nam, là một Chính phủ ít bị cám dỗ hơn và sáng suốt hơn.

CHỦ NGHĨA ĐẾ QUỐC CƯỚP BÓC TRUNG QUỐC

Như chúng ta đã thấy, sự mầu mỡ của ruộng đất, tài nguyên dưới lòng đất, tinh thần cần cù lao động của dân chúng đã biến Trung Quốc thành một nước nông nghiệp vĩ đại có khả nǎng đủ nuôi sống dân cư nước mình. Núi cao, các miền đồng bằng sâu thẳm, những vùng biển cả bao la và những miền sa mạc bất tận bao bọc nó và không cho nó trở thành một nước thương mại. Nét nổi bật trong tính cách người Trung Quốc là tính thích ngồi ở nhà, thái độ ghê tởm sự xa hoa, đạo đức của họ đã đặt vai trò thương nhân xuống vị trí cuối cùng trong nấc thang xã hội, đầu óc bảo thủ trong tất cả các công việc của đời sống – tất cả những điều đó đã dựng lên bức tường hàng nghìn nǎm và hầu như không thể xuyên thủng, làm cho nhân dân Trung Quốc tách rời khỏi những nước đương thời nǎng động hơn. Mặc dù đã hơn mười hai nǎm trôi qua kể từ khi cách mạng nổ ra, nhưng người Trung Quốc vẫn chưa tự thể hiện được mình. Họ đã phá đổ, nhưng chưa xây dựng. Tất cả những tai ương của chế độ cũ vẫn còn. Chế độ địa chủ và chúa đất và chế độ phong kiến vẫn tiếp tục tồn tại. Một hoàng đế đã bị lật đổ, nhưng cả một đám tiểu hoàng đế đã xuất hiện thay vào đó ở mỗi tỉnh mà đại diện là các viên thống đốc các tỉnh. Bọn quân phiệt, công cụ của bọn tư bản ngoại quốc, đã trở thành những chủ nhân của đất nước. Cuộc nội chiến kéo dài từ ngày nổ ra cách mạng, càng ngày càng đẩy đất nước đến gần sự diệt vong.

Dưới sức ép của những nước láng giềng mới, nhờ sự cần cù và sự dồi dào của mình, nhờ những tài nguyên thiên nhiên mà nó có được, nước Trung Hoa lẽ ra có thể phồn vinh, nếu như các cường quốc tư bản chủ nghĩa không cản trở nó trong vấn đề này một cách ân cần nhất và nếu như bản thân người Trung Quốc không giúp cho sự phá hoại ấy, tuy không tự giác nhưng thật là ngu ngốc.

Bằng những biện pháp nào, tư bản ngoại quốc cản trở được sự phát triển kinh tế của Trung Quốc? Chúng làm nảy sinh các khó khǎn chính trị, gây ra những sự hiềm thù nội bộ và tạo ra những vụ rắc rối ngoại giao, chúng cần đến điều đó. Viện vào chỗ nắm trong tay các hải cảng thương mại, chúng chiếm giữ các thành phố quan trọng về mặt chiến lược, khuyến khích những vụ vay mượn, và đòi phải phục hồi những đặc quyền. Chúng chiếm các thị trường, kiểm soát các nguồn tài chính, chiếm đoạt các đặc quyền. Tóm lại, chúng can thiệp vào mọi công việc của Trung Quốc. Dựa vào các tầu chiến và quân đội, chúng điều khiển vận mệnh của nước này theo cách của chúng. Tất cả mọi hành động của chúng đều nhằm tạo ra các trở ngại trên con đường tiến lên của nhân dân Trung Quốc.

Những biểu đồ dưới đây minh hoạ chính sách ǎn cướp mà bọn đế quốc thi hành.

Những khoản cho vay dành cho Trung Quốc

Nước cho vay

Số tiền cho vay

Nguồn bảo đảm

Thời gian cho vay

Nga, PhápAnh, Đức

Anh, Đức

Anh

Anh, Pháp, Đức,Nhật,Nga

Pháp

Nhật Bản

Nhật Bản

Mỹ

Italia

15.820.000 bảng16.000.000 bảng

16.000.000 bảng

6.694.000 bảng

25.000.000 bảng


50.000.000 phrǎng

11.900.000 yên

40.000.000 yên

7.500.000đôla

5.500.000đôla

5.500.000 đôla

5.882.046 bảng

Thuế quan-nt-

Thuế quan và
thuế thu 7 thị trường

Thuế muối, quyền khai thác đường
sắt Bắc Kinh-
Hán Khẩu

Thuế muối

Tiền thuê các
xí nghiệp công nghiệp, thuế
nước ǎn

Thuế nhập
bưu chính

Thuế đất, các
đồ quý giá, muối, các loại giải trí, thuế quan

Thuế thuốc lá

Thu nhập từ 4 tỉnh

Thuế quan,
thuế muối

Thuế quan,thuế nông nghiệp

1895

1896

1898

1911-1912-1914

1913

1914

1901

1918

1901

1916

1919

1901

Những sự kiện chủ yếu của quá trình các nước đế quốc xâm nhập Trung Quốc (1842 – 1919)

Nǎm

Nước
tấn
công

Các khoản đền bù
chiến tranh do
Trung Quốc gánh
chịu (triệu)

Lãnh thổ
mà Trung Quốc
phải nhượng lại

Những điều khoản khác

Lý do
tấn công

(1)

(2)

(3)

(4)

(5)

(6)

1840-1842

Anh

21 tr. đôla

Các tô nhượng tại các thành phố: Quảng Châu, Thượng Hải, Ninh Ba, Phố Châu; Hồng Kông hoàn toàn thuộc sự cai quản của Anh

Đảo Suxun không được nhượng lại cho nước khác

Trung Quốc không cho phép nhập khẩu thuốc phiện

1856-1858

Anh – Pháp

8 tr. taen

10 tr. Bảng

Mở thêm 5 cảng
cho nước ngoài
buôn bán

Các cha cố được tự do truyền đạo, xét lại biểu thuế quan có lợi cho các thương gia ngoại quốc

Trung Quốc bắt giữ tàu chở thuốc phiện có treo cờ nước Anh

1877-1885

Pháp

Trung Quốc
thừa nhận
quyền lợi của
Pháp đối với xứ
An Nam và mở
cửa thêm 2
thành phố cho người ngoại quốc

Tô nhượng đường sắt cho Pháp tại các tỉnh phía Nam Trung Quốc

1894-1895

Nhật Bản

200 tr. taen

Đảo Đài Loan, quần đảo Pêxcađo, bán đảo Liêu Đông cùng với hải cảng Lữ Thuận vào tay nước Nhật

Trung Quốc xâm phạm nền độc lập của Triều Tiên

Nga

Có quyền xây con đường sắt Đông Trung Quốc chạy qua phía Bắc Mãn Châu Lý

Vì làm trung gian giữa Nhật và Trung Quốc và vì đã hoàn lại cho Trung Quốc bán đảo Liêu Đông

1897

Đức

Được thuê Thanh Đảo trong 99 nǎm

Các tô nhượng đường sắt và khai thác mỏ ở tỉnh Sơn Đông

Hai nhà truyền giáo bị giết

Nga

Được thuê pháo đài
Lữ Thuận

1898

Anh

Được thuê hải cảng Uy Hải Vệ, mở rộng thêm lãnh thổ Hồng Công

Đồng bằng sông Dương Tử được thừa nhận là khu vực lợi ích của nước Anh

Để lập lại sự cân bằng giữa các cường quốc

Pháp

Các tô nhượng về đường sắt ở các tỉnh phía Nam và các mỏ, và không được nhượng lại cho cường quốc thứ ba

Cũng vì lý do trên

1900-1901

Anh, Nga, Đức, Pháp, Mỹ, áo, Nhật

450 tr. taen

Quân đội nước ngoài được thường xuyên đóng ở Bắc Kinh; Nga hưởng các đặc quyền ở Mãn Châu Lý

Cuộc khởi nghĩa của Nghĩa hoà đoàn

1905

(Chiến tranh Nga – Nhật)

Các lãnh thổ do người Nga chiếm thì nay chuyển sang tay người Nhật

1910

Nhật Bản

Triều Tiên

1915

Nhật Bản

Nhật Bản được hưởng “các đặc lợi” ở Nam Mãn Châu Lý và Đông Mông Cổ

Trung Quốc chấp nhận một số điều khoản trong “21 đòi hỏi” tạo cho Nhật Bản các đặc quyền kinh tế

1919

Hoà ước Vécxây

Các quyền lợi của Đức ở Trung Quốc hoàn toàn chuyển vào tay Nhật Bản

Ghi chú: Biểu đồ này hết sức bổ ích, nó chỉ rõ rằng:

1. Chủ nghĩa tư bản da trắng, nhằm mục đích làm giàu, đã không ngần ngại và sẵn sàng đầu độc cả một dân tộc bằng thuốc phiện; để bán được thứ thuốc độc ấy, nó không ngần ngại tuyên chiến và giết hại hàng trǎm và hàng nghìn binh lính.

2. Chủ nghĩa đế quốc da trắng gây gổ, vin vào những cớ nhỏ mọn nhất để buộc Trung Quốc dành cho nó những tô nhượng về lãnh thổ và những nhượng bộ khác. Những lý do đó thường do bản thân các cường quốc hữu quan gây nên; đó là trường hợp phái các nhà truyền giáo đến những vùng mà họ thừa biết rằng, ở đấy dân chúng có thái độ thù địch đối với những nhà truyền giáo.

3. Một nước đế quốc chủ nghĩa kêu gọi nước khác hãy dùng vũ lực chiếm một thành phố hoặc hải cảng của Trung Quốc để rồi dưới chiêu bài duy trì thế cân bằng, nước đế quốc nọ có thể cũng làm cái việc như thế.

4. Sự đê tiện và tình trạng bất lương không có giới hạn. Nǎm 1895, Nga, Pháp và Đức đã đề nghị với Trung Quốc để họ được làm trung gian giữa Trung Quốc và Nhật Bản. Do sự nỗ lực của các nước trên, Trung Quốc đã bị mất lãnh thổ và 20 triệu taen. Điều đó cũng không cản trở họ đòi Trung Quốc phải trả 3.000.000 taen tiền “chè thuốc” về những dịch vụ đặc biệt – y như các cô gái điếm đòi tiền.

5. Chủ nghĩa đế quốc Pháp đã vững chân ở Đông Dương, lại tìm cách thực hiện, qua các giai đoạn tuần tự, quá trình thực dân hoá đối với cả vùng Trung Bộ của Trung Quốc. Nó đã thắng vùng đó về phương diện kinh tế, và chỉ chờ thời cơ thuận tiện để hoàn toàn chiến thắng vùng này.

ý nghĩa của tất cả các biểu đồ ấy là ở chỗ nào? Là ở chỗ: chủ nghĩa tư bản phương Tây đang trải qua cuộc khủng hoảng: cần có nhiều hơn nữa các nước thuộc địa để phân chia với nhau, cần có nhiều hơn nữa các thị trường mới để khuất phục, song dẫu sao nó vẫn cảm thấy chật chội mỗi khi phải hành động. Và trong trường hợp ấy tất cả các thành viên trong gia đình tư bản chủ nghĩa hùa nhau lao vào nước trung bình và bắt đầu giằng xé nó tuỳ theo ý mình. Nắm được chiếc chìa khoá mở cửa vào nhà, bọn kẻ cướp ấy lấy đi tất cả những gì quý giá nhất, và Trung Quốc bị trói tay trói chân và tuỳ thuộc vào lòng nhân từ của bọn ǎn cướp đó. Vì đời sống kinh tế của đất nước bị rơi vào tay ngoại bang, nên đời sống chính trị của nó cũng rơi vào số phận như thế một cách tai hại. Sau khi trở thành một nước bị nghèo khổ và mang gánh nặng những khoản nợ to lớn, nhân dân Trung Quốc thường xuyên bị lột da do những đòi hỏi không ôn hoà của giới quân phiệt bản xứ.

Những dấu hiệu phá sản ngày càng ảm đạm tích tụ ở chân trời của nhân dân Trung Quốc và dưới những bước đi không vững chắc của nó, người ta thấy hiện ra vực thẳm vô tận của sự nghèo khổ và phá sản. Và nếu cách mạng không đến kịp thời để cứu nhân dân Trung Quốc, thì nó có nguy cơ rơi xuống đáy vực thẳm không có lối trở lên. Do sức mạnh của kẻ địch, của tư bản nước ngoài, và do tình trạng thiếu kinh nghiệm của bản thân mình, nên chủ nghĩa tư bản bản xứ không có khả nǎng phát triển. Vô sản thành thị và nông thôn, trong những điều kiện của họ, đã không thể có được một quan niệm rõ ràng về phân hoá giai cấp.

Chủ nghĩa tư bản ngoại quốc, với việc du nhập chế độ của mình, hàng hoá của mình và các tư bản của mình, đã làm tan rã – mà nó không hề muốn điều đó – các truyền thống và tập quán gia trưởng. Bản thân sống ǎn bám và tiến hành bóc lột, chủ nghĩa tư bản ngoại quốc làm nảy nở những kẻ ǎn bám khác và những kẻ bóc lột khác để phục vụ cho mình: bọn mối lái, bọn quan liêu, bọn áp phe.

CÁC GIAI CẤP

Khi triều đại cũ bị lật đổ, nhiều viên thống đốc đã nắm trong tay những trung đoàn cấp tỉnh. Dựa vào binh lính, họ đã duy trì các tỉnh của mình và bằng cách đó mà biến thành các tên phong kiến trong chính thể cộng hoà.

Các cường quốc nước ngoài nuôi các đội quân ấy, vũ trang cho chúng và duy trì sự tồn tại của chúng. Các cường quốc sử dụng những đội quân ấy để thực hiện ý chí của mình. Giới quân phiệt này là tai hoạ đích thực của quần chúng công nhân.

Bọn lãnh chúa, nghĩa là bọn quan lại, cũng còn là những bóng ma của xã hội Trung Quốc ngày xưa, và cũng còn là những con chong chóng, gió chiều nào xoay chiều ấy, miễn là bọn chúng được hưởng lợi. Bọn này hoà nhập với bất kỳ triều đại nào, và với bất kỳ chế độ nào. Trong số bọn họ có những nhân vật khả kính mà lòng dũng cảm và sự nhân từ của cá nhân họ đáng được kính trọng. Nhưng đó là những ngoại lệ. Nhờ họ, Trung Quốc có thể tự hào rằng nó có một giới quan liêu cổ xưa nhất.

Những kẻ gian giảo khéo hành động bằng cả ngòi bút, bằng cả đầu lưỡi, đều là con cháu của các chúa đất hoặc là con cháu của các địa chủ hạng trung với tư tưởng thǎng quan tiến chức rất mạnh mẽ. Song lại không vượt quá địa vị của một chức cố vấn khu hoặc tỉnh. Mục tiêu của họ là có được chỗ ấm áp đó bằng mọi cách và mọi thủ đoạn.

Giới thương nhân là giai cấp mới đang ra đời mà đạo lý của nó thì vừa phức tạp, lại vừa mang tính chất trộm cướp. Chắc chắn là giai cấp này lẽ ra không thể ra đời được, không phồn thịnh được nếu không có sự thâm nhập của tư bản ngoại quốc mà về phương diện này thì tư bản ấy là người cha đỡ đầu và người thầy của nó.

Nhưng, sau khi ra đời và trưởng thành, phần nào nó vẫn cảm thấy mình bị người cha đỡ đầu ấy gạt bỏ, hầu như bóp nghẹt vì đã trở thành kẻ cạnh tranh với nó, cản đường không cho nó tiến lên thật xa như nó mong muốn. ở trong tư thế như hiện nay, Chính phủ không thể dành cho nó một sự giúp đỡ nào cả. Và chính phủ muốn có một tầng lớp khác xuất hiện, hùng mạnh hơn, có sức hơn, có khả nǎng hậu thuẫn cho Chính phủ tốt hơn. Vậy nhờ cậy vào ai đây? Nhờ cậy giới quân phiệt chǎng? Nhưng đó là những tên móc tiền vô độ và hoàn toàn tỏ ra bất lực trước ngoại bang. Trông cậy vào quần chúng ư? Bản nǎng ý thức bảo thủ khuyên bảo bọn thương nhân, rằng đối với chúng với tư cách là bọn người đi bóc lột, hoặc cổ vũ bọn đi bóc lột, trước hơn hết là hãy bằng cách nào đó sống lần hồi theo “vận may”, còn hơn là chơi với thứ vũ khí hết sức đáng nghi ngờ là sức mạnh cách mạng của quần chúng.

Họ rơi vào tình trạng tuyệt vọng giữa các vòng luẩn quẩn mà chưa nhìn thấy lối thoát ra khỏi đó. Đứng giữa hai mắt xích khổng lồ là bọn tư bản và giai cấp vô sản, nhóm đứng ở giữa bị đẩy vào tư thế tiêu vong dần dần, bị hoà tan lúc thì vào hàng ngũ các nhà tư bản, lúc thì vào hàng ngũ giai cấp vô sản. Người tiểu sở hữu dễ có nguy cơ bị người sở hữu lớn nuốt chửng nhiều hơn là tự bản thân người tiểu sở hữu biến thành người sở hữu lớn. Vì vậy, nhóm người này tự phân tán thành bột và ngày càng bị nghiền nhỏ thành bụi, ngày càng phải chuyển giao cơ nghiệp hoặc cửa hiệu bé nhỏ của mình cho một ông chủ vững vàng hơn anh ta, còn bản thân anh ta thì gia nhập vào gia đình vô sản vốn đã đông đảo, nhưng vẫn còn mang tinh thần mến khách. Nhưng người tiểu sở hữu mang tinh thần cách mạng không phải vì lý do tâm lý mà vì tất yếu. Dĩ nhiên, tinh thần cách mạng của họ mang tính chất tiểu tư sản và thấm đượm tinh thần chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa cải lương và tính ôn hoà. Tâm trạng ấy của các giai cấp hạng trung đều thấy biểu hiện tại tất cả các nước thuộc địa và nửa thuộc địa.

Các thợ thủ công bị mất nghề do máy móc được sử dụng, những người tiểu nông bị phá sản do mùa màng thất thu và đã phải đem bán ruộng đất của mình, những người công nhân không kiếm được việc làm đã tạo thành một tầng lớp đông đảo những người sống lang thang. Họ đi lang thang từ tỉnh này sang tỉnh khác, từ thành thị về nông thôn và ngược trở lại. Để khỏi bị chết đói, họ nhận làm lính đánh thuê trong đội quân của một viên tỉnh trưởng đầu tiên mà họ gặp hoặc biến thành những tên cướp. Nhân đây xin nói rằng có rất ít sự khác biệt giữa những kẻ làm lính đánh thuê và những tên cướp. Mỗi khi các nhân vật cầm quyền ở các tỉnh cần có quân lính, họ thu góp bọn cướp lại và bằng cách ấy bọn kia trở thành “quân chính quy”. Cả hai loại người đó đều có hại cho nhân dân lao động.

SINH VIÊN

Sinh viên đóng một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống nước Trung Hoa đang thức tỉnh, cho nên tầng lớp này phải được xem xét riêng.

Mặc dù họ xuất thân là con cháu của giai cấp tư sản lớn hoặc nhỏ, nhưng họ được cổ vũ bởi những tư tưởng mới đặc trưng cho thế hệ hiện đại. Bão táp cách mạng, thế giới bị đảo lộn đã làm cho đầu óc họ thoát khỏi những định kiến, các truyền thống đã bám rễ quá sâu và ý thức các dân tộc phương Đông. Họ cảm thấy đau khổ khi phải chứng kiến sự bất tài của những kẻ cầm quyền, sự dốt nát của bọn quân phiệt, tình trạng hèn yếu của đất nước, thái độ ngạo mạn của bọn người ngoại bang, cảnh cùng khổ của nhân dân. Họ có tinh thần cách mạng vì họ được giác ngộ và lòng thương xót đồng bào, nếu chỉ có thể nói được như vậy. Họ là những nhà cách mạng duy tâm. Họ là những người cuồng nhiệt theo chủ nghĩa Uynxơn, nhưng hoà ước Vécxây đã như gáo nước lạnh giội lên đầu họ, còn cuộc cách mạng Nga thì đã chiếu dọi con đường đúng đắn cho họ đi. Họ đã nghiên cứu kỹ lưỡng học thuyết của Khổng Tử, họ đã có những thử nghiệm với chủ nghĩa Uynxơn và nhờ kết quả thử nghiệm cũng như nhờ sự nghiên cứu sâu sắc nên họ đã đến với chủ nghĩa Mác hoặc như bản thân họ gọi là chủ nghĩa Lênin. Họ rất tích cực hoạt động. Họ là một trong những nhóm cách mạng nhất và có tổ chức nhất ở Trung Quốc.

NÔNG DÂN

Vì Trung Quốc thật ra là một nước nông nghiệp, nên hơn 85% dân cư sống ở nông thôn. Có thể phân họ thành bốn loại: đại điền chủ, điền chủ hạng trung, tiểu điền chủ, bần nông và công nhân nông nghiệp.

1) Đại điền chủ. Phần lớn gồm những chúa đất và các phần tử quý tộc cũ. Số lượng loại này có từ 250 đến 300, mỗi tên chiếm giữ hơn 10.000 mẫu 1 ; có gần 30.000 hộ chiếm giữ hơn 1.000 mẫu mỗi hộ, và có 300.000 hộ chiếm giữ hơn 100 mẫu mỗi hộ.

2) Địa vị xã hội của các tiểu chủ, có từ 10-100 mẫu thì thật phức tạp và biến động. Với một số ruộng đất từng ấy, người nông dân có thể trở thành kẻ bóc lột, lại cũng có thể trở thành người bị bóc lột:

a/ Nếu gia đình khá đông người, có thể dùng sức của bản thân để cày cấy, thì anh ta thuộc loại trung gian;

b/ Nếu gia đình không đủ đông thì người nông dân ấy phải phát canh một phần số ruộng của mình và như thế trở thành kẻ bóc lột;

c/ Nếu gia đình quá đông và không đủ ruộng cho từng ấy nhân khẩu, thì người nông dân thường buộc phải cày cấy thêm ruộng đất của người khác ngoài số ruộng đất của mình, và như vậy anh ta trở thành người vô sản và biến thành người bị bóc lột.

Có gần 44.000.000 hộ ở vào địa vị như vậy.

3) Rất nhiều nông dân nghèotrở thành các tá điền hoặc bắt đầu nhận cấy rẽ. Người tá điền thuê ruộng, trả một khoản tiền trong một thời gian nhất định. Vào nǎm được mùa, số lãi của anh ta cũng không nhiều, bởi vì chủ ruộng biết rõ ruộng đất của mình và tính toán chính xác các khoản thu nhập trên số ruộng đó. Nếu mất mùa thì người tá điền hoàn toàn phá sản, còn chủ đất thì không bị mất gì. Với hình thức cấy rẽ, chủ đất thu được từ 40% đến 50% sản lượng của mỗi vụ thu hoạch.

4) Công nhân nông nghiệp. Trước kia chế độ sở hữu ruộng đất ở Trung Quốc mang tính chất hết sức manh mún, mỗi nông dân, thậm chí ngay cả người nông dân nghèo nhất, cũng có một mảnh đất cỏn con. Nhưng đến nay nhiều người không có được “ngay cả mảnh đất cỏn con đó để cắm dùi”. Đối với họ, đôi bàn tay là nguồn sống duy nhất. Để kiếm được miếng cơm, họ trở thành người hầu hạ trong các gia đình hoặc trở thành những công nhân làm theo mùa. Công nhân theo mùa không có đồng lương ổn định, cũng không có việc làm thường xuyên. Do vậy, cuộc sống của họ rất khổ sở. Những công nhân lớn tuổi mỗi nǎm kiếm được từ 20 đến 30 piát 1 kèm theo cơm ǎn và chỗ ở. Còn các trẻ em làm việc chǎn súc vật thì mỗi nǎm kiếm được từ 3 đến 5 piát. Sự xâm nhập của tư bản ngoại quốc đã ảnh hưởng hết sức tai hại đến nông thôn. Nếp sống gia trưởng truyền thống bị phá huỷ. Bị thôi thúc bởi lòng hám lợi và bởi tấm gương các người anh em của mình ở thành thị, điền chủ ở nông thôn cũng ngày càng tìm cách độc quyền chiếm ruộng đất. Các công ty khai thác ruộng đất được hình thành và độc chiếm đến 300.000 mẫu, làm cho hàng loạt nông dân bị mất ruộng đất. Nǎm 1918 đã có hơn 15.500.000 nông dân bỏ thôn xóm ra đi vì cảnh nghèo túng. Nạn lụt lội, mưa bão, đói khát, chế độ quân phiệt, tình trạng dốt nát- tất cả những cái đó làm cho tình cảnh của người nông dân Trung Quốc ngày càng trở nên thê thảm hơn.

CÔNG NHÂN

Cǎn cứ theo các số liệu thống kê thì số lượng giai cấp vô sản Trung Quốc lên đến 5.056.000 người. Gần 15 tổ chức tập hợp 300.000 thành viên. Các tổ chức được phân chia như sau:

Nghề

Số lượng

Được tổ chức lại

Thợ điện

100.000

5.000

Làm công trong nhà

400.000

8.000

Thợ may

300.000

7.000

Công nhân mỏ đá

300.000

8.000

Công nhân mỏ muối

300.000

10.000

Thợ kéo xe

200.000

10.000

Công nhân xưởng in

80.000

l0.000

Thợ dệt

180.000

l0.000

Thợ cắt tóc

200.000

14.000

Công nhân thuốc lá

100.000

18.000

Công nhân xây dựng

800.000

30.000

Công nhân mỏ

420.000

26.000

Công nhân đường sắt

l00.000

42.000

Vận tải đường sắt

80.000

45.000

Công nhân kim khí

200.000

50.000

Các loại khác

7.000

Mặc dù chỉ đến cuối cuộc chiến tranh châu Âu, giai cấp vô sản Trung Quốc mới bắt đầu thật sự được tổ chức lại, nhưng nó đã đứng vững trong một số trận chiến đấu, vừa chịu những thất bại, vừa giành được thắng lợi. Công nhân các ngành kim khí, hoá chất và ngành biển luôn luôn tỏ ra rất vững vàng về phương diện tổ chức và tinh thần sẵn sàng hành động. Các tổ chức của họ là một sức mạnh thực tế mà chủ nghĩa tư bản ngoại quốc và bản xứ phải tính đến. Giai cấp vô sản có tổ chức đưa ra yêu sách:

1) Tự do hội họp;

2) Quyền bãi công và thành lập các hiệp hội;

3) Chế độ ngày lao động 8 giờ dành cho người lớn và ngày lao động 6 giờ dành cho thiếu niên;

4) Bảo vệ những điền chủ hạng nhỏ;

5) Cấm lao động thêm giờ trong các ngành sản xuất nguy hiểm;

6) Cấm lao động ban đêm đối với phụ nữ và trẻ em;

7) Chế độ nghỉ phép 2 tuần, mỗi nǎm 2 lần, có trả lương;

Nghỉ 8 tuần lễ trước và nghỉ 8 tuần lễ sau sinh con đối với phụ nữ làm các công việc nặng nhọc;

Nghỉ 6 tuần lễ trước và 6 tuần lễ sau khi sinh con đối với phụ nữ làm công việc nhẹ.

8) Chế độ kiểm soát của công nhân đối với việc thi hành bảo hiểm công nhân;

9) Nhà nước trợ cấp cho các tổ chức công nhân để áp dụng chế độ giáo dục ngoài nhà trường cho công nhân lớn tuổi.

LAO ĐỘNG TRẺ EM

80 nǎm về trước, khi chưa xảy ra cuộc chiến tranh thuốc phiện, ở Trung Quốc đã ngự trị chế độ gia trưởng chuyên chế. Sau cuộc chiến tranh này (1840) chủ nghĩa tư bản ngoại quốc chiến thắng đã thay thế chế độ gia trưởng bằng chế độ công nghiệp. Cuộc đấu tranh sống mái đã diễn ra giữa các sản phẩm nội địa và sản phẩm nhập nội; có thể dễ dàng thấy trước kết cục cuộc đấu tranh: sự suy sụp của nền công nghiệp bản xứ và sự toàn thắng của nền sản xuất công xưởng ngoại quốc. Các nghề thủ công đã bị giết chết. Một số cơ sở sản xuất hạng trung đã cả gan thống nhất lại, tập hợp lại để chống ngoại bang. Nhưng cuộc đấu tranh không cân sức, vì vậy nền sản xuất cơ giới hoàn hảo đã không gặp khó khǎn lắm để hất nền công nghiệp bản xứ xuống vực thẳm.

Sau khi đã dọn chỗ cho mình bằng cách đó, tư bản ngoại quốc chỉ còn một việc là xuất hiện ở Trung Quốc để hưởng sự thịnh vượng. Không phải mời nó đến lần thứ hai. Bọn tư bản bản xứ đã đặt quan hệ êm thuận với những người bạn mới, nhưng trong bụng chỉ hy vọng có dịp nào đó thoát khỏi những ông bạn ấy. Nhưng họ đã lầm to. Thay vì dịp may mà họ hằng mong đợi, họ đã phải nhìn thấy bản thân mình bị lột khố, một mặt – bởi bọn đế quốc ngoại bang, mặt khác – bởi chính bọn quân phiệt nước mình. Cuộc chiến tranh thế giới nổ ra. Bọn tư bản phương Tây quá bận rộn với công việc của mình, nên không thể quan tâm đến vùng Viễn Đông. Chúng giải phóng các thị trường và rút các con tàu của mình ra khỏi các hải cảng Trung Quốc.

Các mặt hàng công nghiệp trở nên khan hiếm. Tưởng chừng cuối cùng thì ngôi sao vận may đã rọi sáng đến nền công nghiệp và các nghề thủ công bản xứ. Người thì lợi dụng sự vắng mặt của kẻ cạnh tranh đáng nghi ngờ của mình để mở các nhà máy mới và các cửa hàng mới. Có người lại muốn lợi dụng sự non yếu và sự thiếu kinh nghiệm của loại vừa nói ở trên để khôi phục lại những công xưởng đã bị phá huỷ của mình và tìm đến những khách hàng cũ.

Than ôi! Điều đó không hơn gì một giấc mơ đẹp. Nhà tư bản và thợ thủ công chỉ vừa mới kịp chúc mừng nhau là nỗi thất vọng chua chát đã hiện lên trước họ. Cuộc chiến tranh kết thúc. Bọn đế quốc lại quay trở lại. Và chúng trở lại với số lượng đông đảo hơn, và đưa ra nhiều đòi hỏi hơn trước. Chúng cố gắng không chỉ gỡ lại những gì đã bị mất đi ở Trung Quốc trong thời gian vắng bóng, mà còn muốn gỡ lại cả những gì bị mất đi trong thời gian chiến tranh ở châu Âu. Cũng hệt như các nước thuộc địa đã từng có nghĩa vụ phục vụ chiến tranh, bây giờ lại có nghĩa vụ phục hồi chính quốc. Trung Quốc cũng phải làm việc cho châu Âu đã bị kiệt quệ. Nền công nghiệp bản xứ đã bị đặt lại đúng địa vị của mình, còn các thợ thủ công thì bị lãng quên và đi vào đêm tối.

Trong cuộc chơi trò ú tim ấy giữa bọn tư bản, những người công nhân, đặc biệt là thiếu niên, bị rơi vào cảnh là kẻ phải lót đỡ. Số lợi nhuận mà bọn tư bản không đủ sức bòn rút do thiếu tư bản và do máy móc không hoàn hảo thì bọn tư bản bản xứ lại bắt người công nhân phải gánh chịu. Do ít kinh nghịệm hơn, ít có khả nǎng đấu tranh và hậu quả là những thiếu niên dễ bị thuận lòng lại hoàn toàn nằm trong tay bọn chủ. Thường xảy ra tình trạng là, cũng cùng làm một công việc trong cùng một thời gian, nhưng các em thiếu niên nhận tiền công ít hơn nhiều so với công nhân lớn tuổi. Nếu các em tỏ ý bất bình, thì tên chủ nói với họ: “Tại sao chúng mày, những kẻ không có sức lực và không có tay nghề, lại không cảm thấy may mắn một khi chúng mày được người ta cho miếng cơm và không để chết đói ở ngoài phố?”. Trên thực tế, bọn chủ thích sử dụng các em thiếu niên là những người dễ cam chịu bị bóc lột mà vẫn hoàn thành cùng một định mức công việc. Đó là tình hình trong ngành sản xuất lụa với công việc không phức tạp, còn máy móc thì đơn giản, không đòi hỏi phải có sức vóc và tay nghề.

Bằng cách sử dụng lao động trẻ em, chủ nhà máy tiết kiệm được rất nhiều. Thượng Hải là thành phố điển hình để nghiên cứu sự bóc lột lao động của những công nhân ít tuổi. ở thành phố này, công nghiệp phát triển mạnh nhất và mang tính chất hiện đại nhất so với bất cứ nơi nào ở Trung Quốc. Các ngành sản xuất chủ yếu là: vải sợi, lụa và thuốc lá. Số công nhân làm việc trong các ngành này lên đến 200.000 người, trong đó có 50% là phụ nữ và trẻ em. Tiền công của 2 loại công nhân này rất thấp, từ l0 đến 20 xu/ngày. Độ dài của ngày lao động là từ 12 giờ đến 13 giờ. Độ tuổi trung bình của trẻ em từ 7 đến 14 tuổi. Với thể chất còn non yếu, với những cơ quan của cơ thể còn mảnh mai, các em đã phải lao động suốt những giờ làm việc kéo dài trong các công xưởng, trong những điều kiện vệ sinh rất tồi tệ. Suốt cả ngày, các em phải hít thở vào phổi những mùi nồng nặc, không khí hôi thối và bụi bậm. Sau một thời gian ngắn lao động tại các công xưởng, sức khoẻ những trẻ em khốn khổ này bị huỷ hoại vô phương cứu chữa, thậm chí lao động ban ngày cũng làm cho mệt mỏi. Những công việc làm ban đêm còn tồi tệ hơn; sự mệt nhọc và tình trạng thiếu ngủ trở thành hình thức tra tấn thực sự đối với trẻ em. Sự tra tấn ấy trở nên khủng khiếp khi diễn ra 10 ngày liền. Trên thực tế, với chế độ làm việc 20 ngày đêm thì trẻ em phải làm l0 ngày ca ban ngày và l0 ngày phải làm theo ca đêm. Nhiều khi bất chấp các nỗ lực vì bị mệt nhọc quá sức, các em đã phải nhắm nghiền mắt lại. Vô số trường hợp tai nạn đã xảy ra vì thiếu ngủ.

Trong ngành sản xuất tơ lụa, điều kiện làm việc thật kinh tởm. Em gái bé nhỏ làm công việc “kéo tơ” phải đảm đương 2 nồi chứa đầy nước sôi và chứa một số lượng kén nhất định. Bằng 2 chiếc đũa nhỏ, người kéo tơ xe những sợi tơ được kéo ra từ những kén tơ và đặt những sợi tơ ấy lên chiếc khung guồng. Vì luôn luôn có kén tơ bị đứt quãng và sợi tơ bị đứt nên người ta liên tục phải nối chúng lại bằng 2 chiếc đũa. Như vậy, một mặt, em gái kéo tơ bị nóng bức do ngồi sát nước sôi bốc hơi, và mặt khác, em lại bị lạnh bởi luồng không khí chuyển động từ chiếc khung quay tít. Sự ồn ào đến điếc tai của máy móc, rồi mệt nhọc do hai bàn tay phải liên tục vận động, hơi nước, mùi hôi thối đến lộn mửa của những chiếc kén tằm đã thối rữa – tất cả những cái đó được quyện lại với nhau để làm rã nát không thương xót những sợi dây thần kinh của cô thợ bé bỏng. Không hề có quạt gió thông hơi, không hề có những thiết bị bảo hộ vệ sinh. Mùa hè cũng như mùa đông đều nóng bức không thể chịu nổi vì bầu không khí ngột ngạt. Đó là những điều kiện làm việc của các em gái ở độ tuổi từ 8 đến 15 tuổi. Bụi tơ bay vào miệng, vào mũi làm tắc cả lỗ tai. Các ngón tay và mặt thường bị tấy đỏ do nước bẩn nóng bỏng chảy từ các nồi nước. Nhưng chưa hết. Để đi đến nơi làm việc và sau đó trở về nhà, các em phải đi bộ nhiều kilômét. Rất ít khi được chở đi bằng những chiếc xe ngựa bé nhỏ lèn các em như lèn cá trong thùng. Các em phải ǎn vào giữa trưa (hoặc vào nửa đêm) ở ngay tại công xưởng, bởi vì người ta không cho các em hưởng 15-20 phút để ǎn uống. Không có chế độ giải lao, không có chế độ nghỉ hằng tuần. Đó là cuộc đời của các nữ công nhân bé nhỏ khốn khổ ấy.

Từ 7-8 tuổi đã phải lao động mỗi ngày 12-13 giờ trong suốt cả nǎm, các em không còn thời gian và khả nǎng để học tập. Các em hầu như nhất loạt mù chữ, đa số mắc bệnh lao.

Và bất kể tất cả những điều đó, các em vẫn tự coi mình là gặp may. Tình trạng nghèo khổ quá ghê gớm, số người thất nghiệp quá đông, khiến cho chỉ nghĩ đến sự mất việc làm đã đủ để cho người nữ công nhân trẻ tuổi không dám đấu tranh hoặc đòi hỏi thực hiện những sự cải thiện nào đó. Bọn chủ biết rõ điều đó và khai thác nỗi sợ hãi của các em. Nhưng từ nǎm 1920, các nữ công nhân nhỏ tuổi, noi gương những công nhân nam lớn tuổi, đã thực hiện một số cuộc bãi công đòi tǎng lương. Dĩ nhiên, phong trào này còn chưa được tổ chức tốt, lãnh đạo chưa tốt và bị thất bại. Bọn chủ có thái độ khoan dung đối với những phong trào đó, coi đó là trò trẻ con mà thôi.

Các xưởng dệt và các nhà máy sản xuất vũ khí là những xí nghiệp duy nhất ở Trung Quốc được tổ chức một cách hiện đại. Các em thiếu niên trong công nghiệp dệt chiếm 7% tổng số công nhân, tại các nhà máy sản xuất vũ khí các em chiếm 5%. Các em được phân thành 3 loại: học sinh học nghề, thợ bạn và lao công. Loại học nghề lao động l0-ll giờ/ngày, được trả 10-20 xu. Thời gian học nghề kéo dài 2-3 nǎm. Sau đó họ trở thành thợ bạn. Thợ bạn hưởng tiền công nhiều hơn các em học nghề, nhưng lại ít hơn so với các công nhân thực thụ. Loại lao công hưởng tiền công bằng các em học nghề, nhưng không có tương lai bởi vì họ sẽ không bao giờ trở thành thợ cả. Nhìn chung, hoàn cảnh của các em thiếu niên – công nhân có tốt hơn hoàn cảnh các em gái trong ngành sản xuất tơ lụa. Số giờ làm việc của các em nam ngắn hơn và được nhiều tự do hơn, nhưng các em cũng không được tổ chức lại.

Do đất nước rộng lớn bao la và thiếu phương tiện đi lại, cho nên quá trình nền công nghiệp phá huỷ nghề thủ công vẫn chưa kết thúc. ở miền quê xa xôi không ở gần các con sông và đường sắt, dân chúng luôn luôn cần đến các sản phẩm địa phương. Trong các vùng đó nghề thủ công tương đối phát đạt, cùng với nó là việc dạy nghề. Các nam nữ công nhân nhỏ tuổi phần nhiều là con cái của công nhân thành thị. Một số lượng không đáng kể xuất thân từ nông thôn; nhiều người trong số đó đã theo học các trường cấp I, một số đã học các trường cấp II- đó là con cái của những tiểu chủ đã biến thành vô sản.

Rất khó xác định con số chính xác các công nhân thiếu niên, nhưng dù sao cǎn cứ theo tỷ lệ phần trǎm, ta có thể nói rằng, trong công nghiệp dệt có 7% số các em ấy, trong công nghiệp sản xuất vũ khí có 5%, trong ngành tơ lụa có 25%, qua đó chúng ta thấy các em giữ vị trí quan trọng như thế nào trong gia đình vô sản Trung Quốc.

Trong các xưởng được tổ chức tốt, các em học sinh còn kiếm được đôi chút, trong khi đó các em học sinh ở nông thôn không nhận được đồng nào, mà thời hạn học lại kéo dài hơn. Trong những nǎm đầu các em không được học gì cả, các em làm các công việc sai vặt, quét nhà, đốt lò, gánh nước, tóm lại, làm hàng nghìn công việc trong nhà. Đôi khi ông chủ bảo học trò dắt con cái hắn đi dạo chơi như người hầu.

Sau khi học xong, người học trò không được lập tức rời khỏi nhà ông chủ của mình. Theo tục lệ đã ǎn sâu, người học trò phải ở lại trong vòng 2 – 3 nǎm để giúp việc có được hưởng công, mức tiền công do ông chủ tuỳ ý ấn định, tuỳ theo “lòng tốt”. Mới đây, đời sống đắt đỏ đã đẩy công nhân làm việc trong các nghề thủ công đoàn kết lại để bảo vệ lợi ích của mình. Hiện thời, đây vẫn còn là một phong trào yếu ớt, và các đòi hỏi của nó còn rất ôn hoà. Phải thấy rằng, công nhân thiếu niên và các em học nghề đã cảm nhận thấy sự phá sản đang tới gần cửa các xí nghiệp thủ công, nên đã dần dần rời bỏ xưởng của mình để vào làm tại các xưởng máy. Tình cảnh của lao động trẻ tuổi rất thảm hại. Họ không có công việc ổn định, không có đồng lương tạm phải chǎng, cũng không có sự bảo đảm cho tương lai. Khi có việc làm thì họ còn sống lần hồi cho qua ngày, nhưng khi không có việc làm thì lâm vào cảnh nghèo đói. Những con người không nhà ấy đi lang thang trong các thành phố, tại các tụ điểm thương mại và trang hoàng những nơi đó bằng những mảnh quần áo rách nát của mình và bằng tất cả các hình dáng nghèo khổ, phơi bày ra trước mắt chế độ quân phiệt và giai cấp tư sản hình ảnh sống động về tội ác của chúng.

THANH NIÊN TRUNG QUỐC VÀ ĐỜI SỐNG CỦA HỌ

Cũng như thanh niên các nước khác, thanh niên Trung Quốc chịu đựng gánh nặng hậu quả của chế độ tư bản chủ nghĩa và quân phiệt.

Với sự nghèo nàn tinh thần, sự thô bỉ và vô sỉ, bất chấp những phẩm giá tiêu biểu cho tất cả những tên tay sai của chủ nghĩa tư bản được trang hoàng bằng các tước hiệu, bọn quân phiệt Trung Quốc không có mục đích, cũng như những người anh em của chúng ở phương Tây, chúng không thể được hưởng sự tha thứ.

Bọn quân phiệt phương Tây chí ít còn biết rằng, chúng tàn sát thanh niên vô sản nước mình là để bảo vệ túi tiền của bọn tư bản, hoặc nhằm mục đích chinh phục các thuộc địa, duy trì lợi ích kinh tế và chính trị của giai cấp tư sản là giai cấp của chúng. Bọn quân phiệt Trung Quốc đẩy một số thanh niên Trung Quốc này đi giết hại những thanh niên Trung Quốc khác nhằm phục vụ lợi ích của bọn tư bản ngoại quốc mà chúng phục tùng. Bọn quân phiệt ấy thậm chí không tìm đến các chiêu bài chủ nghĩa sô vanh và bảo vệ giai cấp mình.

Cũng cần nói thêm rằng, không có ở nơi nào mà người lính lại bị đối xử tồi tệ như thế và bị mất quyền như ở Trung Quốc.

Như chúng ta đã thấy, có lẽ tình cảnh của học sinh ở Trung Quốc thậm chí còn tồi tệ hơn những người anh em của họ ở các nước khác.

Bên cạnh chế độ quân dịch và học nghề, còn có tôn giáo và nền học vấn tư sản với những ý thức giả dối của nó. Chế độ tư bản chủ nghĩa đã làm thanh niên bị biến dạng về phương diện tinh thần và vật chất, khi thanh niên chưa kịp phát triển.

Còn về giáo dục thì quy tắc chung là: trẻ em được học hành tuỳ theo mức sống vật chất của bố mẹ. Nếu bố mẹ giàu có, con cái được học hành chu đáo. Nếu bố mẹ nghèo, con cái hoàn toàn thất học. Như vậy, con cái giai cấp đại tư sản được ra nước ngoài ǎn học. Khi chúng trở về tổ quốc với tất cả hành trang khoa học của mình, thì chúng giữ những cương vị quan trọng trong các cơ quan chính trị và kinh tế của đất nước.

Con cái của giai cấp tư sản hạng trung được học hành rất chu đáo khiến cho chúng có thể trở thành những người lao động có địa vị tốt và làm các nghề tự do. Sau khi tốt nghiệp các trường cấp I và cấp II, con em của các tiểu chủ, do không có tiền, nên không thể tiếp tục tiến lên các nấc kiến thức cao hơn. Họ biến thành những viên chức hành chính, các chủ tiệm buôn ở nông thôn và v.v.. Đôi khi họ đi tìm vận may trong quân đội.

“Con vua thì lại làm vua, con sãi ở chùa lại quét lá đa” – Câu tục ngữ đã nói như vậy. Mặc dù hết sức mong muốn, nhưng công nhân và bần nông không thể gửi con em mình đến trường được. Nếu như họ làm được điều đó thì cũng chỉ làm được một hoặc hai nǎm, không thể lâu hơn được. Tình trạng nghèo đói đè họ xuống như những gọng kìm. Và những trẻ em nào chật vật lắm mới học đánh vần được đôi ba chữ thì lại ghi tên vào làm tại các xưởng hoặc ra làm ở ngoài đồng ruộng.

PHONG TRÀO THANH NIÊN

Cũng như phong trào công nhân, phong trào thanh niên Trung Quốc ra đời vào cuối chiến tranh thế giới, hay nói đúng hơn, từ khi hoà ước Vécxây được ký kết. Phong trào này hoàn toàn khác phong trào thanh niên ở phương Tây. Phong trào thanh niên ở phương Tây chủ yếu tập hợp thanh niên nông thôn và thanh niên công nhân. ở Trung Quốc, phong trào thanh niên chỉ tập hợp sinh viên. ở phương Tây, thanh niên nông thôn cũng như thanh niên thành thị đều đấu tranh vì những nguyên nhân kinh tế và chống bọn quân phiệt, bởi vì trên cơ sở đó, lợi ích của họ trùng hợp với nhau. Còn ở Trung Quốc, trừ một vài ngoại lệ hãn hữu, cuộc đấu tranh lại do thanh niên trí thức tiến hành. Cuộc đấu tranh này thường mang tính chất chính trị nhiều hơn tính chất kinh tế, hơn nữa, những hoạt động đấu tranh ấy chủ yếu nhằm chống lại chính phủ phản động và chủ nghĩa quân phiệt phong kiến. Sự khác nhau này có thể giải thích được. Tại các nước phương Tây, nơi chủ nghĩa tư bản phát triển hơn, nền giáo dục mang tính chất phổ biến hơn. Thanh niên công nhân phát triển hơn và quen đấu tranh hơn. Nó có được kinh nghiệm – đó là di sản của các dân tộc cổ đại. Còn ở Trung Quốc chủ nghĩa tư bản còn non trẻ. Công nhân quen với lối sống kiểu chế độ gia trưởng. Sự học hành chỉ hạn chế ở một số ít con cái các tầng lớp có đặc quyền đặc lợi. Đa số công nhân không biết chữ và bị tách khỏi phong trào công nhân toàn thế giới. Họ bị đau khổ, họ nhìn thấy rõ tất cả tình cảnh khốn khó của mình. Nhưng họ không biết, do đâu mà họ bị nghèo khổ và bằng cách nào thoát khỏi tình trạng đó. Chỉ có tầng lớp sinh viên là có thể nghe thấy những hồi âm của phong trào cách mạng ở phương Tây. Chỉ có họ mới có thể nhìn thấy, suy ngẫm, so sánh và hiểu được vấn đề. Vì vậy, họ là những người đầu tiên tham gia đấu tranh.

Mặt khác, sinh viên không phải chịu những thiếu thốn về vật chất như người công nhân. Do vậy, họ phát động tuyên truyền chống chủ nghĩa quân phiệt và chống đế quốc. Kinh nghiệm chỉ cho họ thấy rằng, chủ nghĩa đế quốc là nguồn gốc của tất cả mọi cǎn bệnh mà chỉ có sự thức tỉnh của giai cấp công nhân mới chữa khỏi được.

Họ yêu tự do và trung thực, họ kiên quyết đấu tranh vì sự nghiệp công nhân. Trong tất cả các cuộc cổ động và biểu tình gần đây, sinh viên đã dành vị trí to lớn cho các yêu sách của công nhân. Trước đây ở tất cả các nước, trong thời kỳ trước cách mạng, chúng ta thấy trí thức đảm nhận vai trò tiền phong, mãi cho đến khi tự bản thân người công nhân đã trở nên giác ngộ hơn và có học vấn hơn, đủ sức lo liệu cho vận mệnh của mình. Khi ấy, tầng lớp trí thức thật sự cách mạng sẽ tự hoà nhập và đi vào phong trào công nhân.

Khi mới ra đời, tổ chức thanh niên cộng sản Trung Quốc tự đặt tên cho mình là “Liên đoàn thanh niên xã hội chủ nghĩa”. Nó bao gồm tất cả các khuynh hướng và tất cả các sắc thái. Trong đó có cả phái vô chính phủ, phái công đoàn chủ nghĩa, phái Rútxô, những người đi theo Các Mác. Sự pha trộn như vậy các khuynh hướng khác nhau đã không thể kéo dài lâu được. Người ta tranh cãi nhiều, nhưng không làm gì cả. Kết cục là, họ đã tách khỏi nhau. Nhóm mácxít là nhóm duy nhất còn tồn tại và được tổ chức lại. Từ đó nó hoạt động thật sự, dành mọi sức mạnh cho tổ chức mình, và cho việc giáo dục thanh niên nông dân và thanh niên công nhân.

Vào tháng 5-1919, người ta thấy rõ là, Nhật Bản không muốn trả Thanh Đảo cho Trung Quốc và các đại diện của Trung Quốc ở hội nghị hoà bình đã do dự trong việc ký tên vào hoà ước Vécxây. Khi ấy, tất cả các sinh viên Trung Quốc đã đổ ra đường phố. Họ đã đốt các dinh thự của ba viên bộ trưởng Nhật Bản, chặn đường một viên bộ trưởng đó và chỉ sau khi đã đánh cho nhừ tử mới buông tha. Thanh niên trong toàn Trung Quốc đã noi theo tấm gương các đồng chí của mình ở Bắc Kinh, và cuộc biểu tình đã lan rộng ra toàn quốc. Họ đã gửi các bức điện đến Pari thuyết phục đại diện của mình đừng ký vào bản hoà ước chia cắt này. Họ đòi triệu hồi lập tức ba bộ trưởng phản bội, đưa yêu sách đòi thả các sinh viên bị bắt trong thời gian có biểu tình, tuyên bố tẩy chay hàng hoá của Nhật Bản. Họ hết sức nhiệt thành, và phong trào rất kiên cường, vì vậy đã nhanh chóng đem lại kết quả. Cả ba bộ trưởng bị triệu hồi, đại diện Trung Quốc đã không chịu ký vào bản hoà ước, những người bị bắt giữ đã được thả ra. Cuộc tẩy chay hàng hoá Nhật Bản đã trở nên rộng khắp.

Sau thành công này, anh em sinh viên đã thật sự đi vào hành động và đấu tranh. Nhằm truyền bá các tư tưởng tiên tiến, người ta đã lập ra các câu lạc bộ triết học, vǎn học và nghệ sĩ; lập ra hội liên hiệp tập hợp hàng vạn sinh viên. Những sinh viên tiên tiến nhất đã quyết định cách mạng hoá sinh hoạt truyền thống đầy tính chất uỷ mị của giới sinh viên Trung Quốc. Họ lập ra các nhóm mà tất cả các thành viên trong đó phải làm công việc chân tay mỗi ngày 3-4 giờ. Có nhiều sinh viên ra nước ngoài để ban ngày làm việc, còn ban đêm học hành. Họ tự kiếm tiền để sống và không nhờ đến sự hỗ trợ vật chất của gia đình, cũng như của nhà nước.

Là những lực lượng đáng chú ý về sức mạnh và về số lượng, sinh viên thường hay can dự vào các vấn đề chính trị và xã hội. Các phương tiện đấu tranh của họ cũng giống như của giai cấp vô sản: ra lời kêu gọi, tổ chức mít tinh, biểu tình, bãi công.

HAI NHÂN VẬT ANH HÙNG CỦA THANH NIÊN TRUNG QUỐC

Tháng 8 nǎm 1920, Hội liên hiệp thanh niên xã hội chủ nghĩa ra đời ở Thượng Hải. Vì thành phần rất hỗn tạp nên nó chỉ tồn tại có 1 nǎm. Tổ chức này giải tán vào tháng 5 nǎm 1921. Đến tháng 12 nǎm đó, một số người mácxít trẻ tuổi đã tập hợp nhau lại và lập ra nhóm mácxít. Tháng 5 nǎm 1922, họ đã có đến 17 chi nhánh địa phương. Những chi nhánh lớn nhất là ở Thượng Hải, Nam Kinh, Bắc Kinh, Thiên Tân, Quảng Châu. Các tổ chức này có 4.000 thành viên, trong đó có 2.400 công nhân trẻ và 1.600 sinh viên. Cần nêu rõ sự vượt trội của thành phần vô sản, bởi vì trước đây thanh niên công nhân Trung Quốc vẫn chưa được huấn luyện vào tổ chức và thường có thái độ quay lưng lại với chính trị. Các chiến hữu của chúng ta – đã rất kiên trì, nhiệt tình và tháo vát để thu hút một số lượng lớn công nhân trong một thời gian ngắn như thế.

Tháng 5 nǎm 1922, Đại hội toàn quốc lần thứ nhất của thanh niên cộng sản Trung Quốc được triệu tập ở Quảng Châu. Đại hội đã thảo luận các đề cương có quan hệ đến chính sách dân tộc và quốc tế, đã thông qua các nghị quyết về những phương pháp đấu tranh chống đế quốc và chống chủ nghĩa quân phiệt. Đại hội đã thảo luận các phương cách tuyên truyền và thu nạp các thành viên mới. Tóm lại, đã đặt được nền móng vững chắc cho tổ chức thanh niên cộng sản, kể từ ngày đó, ảnh hưởng của nó ngày càng tǎng trong quần chúng công nhân.

Tuy còn rất non trẻ, nhưng “thanh niên cộng sản Trung Quốc” đã tham gia các trận chiến đấu, đã đón nhận các đòn giáng của giai cấp tư sản và phải chịu đựng những hy sinh. Lịch sử thanh niên cộng sản Trung Quốc đã có tấm gương hy sinh cao cả. Chưa kể số thanh niên xung kích đang còn ngồi trong các nhà tù, đã có hai người hy sinh cho giai cấp vô sản.

Vương ái ra đời nǎm 1897 tại Trang Tế thuộc tỉnh Hồ Nam. Anh theo học tại một trường dạy nghề. Sau khi tốt nghiệp khoá học, anh làm thợ điện. Sau đó anh tốt nghiệp trường cao đẳng dạy nghề ở Thiên Tân. Nǎm 1919, sau khi xuất hiện phong trào sinh viên nhân Hoà ước Vécxây, anh gia nhập Hội liên hiệp sinh viên. Hoạt động tích cực và lòng dũng cảm của Vương ái đã nhanh chóng được các đồng chí của anh biết đến, họ cử anh làm đại biểu đến Bắc Kinh để đặt quan hệ với giới sinh viên Thủ đô và sau nữa để chuyển cho Chính phủ yêu sách của sinh viên. Anh đã bị bắt giam 38 ngày trong nhà tù. Nǎm sau, anh đã trở về quê và lập ra “Liên đoàn công nhân Hồ Nam”. Anh làm bí thư của tổ chức này cho đến ngày qua đời. Tháng 4 nǎm 1921, anh lại bị bắt trong thời gian nổ ra cuộc bãi công của công nhân ngành tơ lụa. Trong nhà tù, anh đã tuyên bố tuyệt thực 7 ngày và đã được trả tự do. Sau khi ra khỏi nhà tù, anh em công nhân đã công kênh anh lên với niềm hân hoan phấn khởi. Đáp lại sự chào mừng của các đồng chí, Vương ái đã nói: Tất cả các chiến sĩ trẻ tuổi cần phải biết cảnh tù tội. Đó là nơi thích hợp để rèn luyện – càng nhiều lần bị tù tội thì ta càng có nhiều tinh thần cách mạng. Vào tháng 11, anh tổ chức biểu tình phản đối chính sách phản động của Chính phủ. Hơn 10.000 công nhân đã hưởng ứng lời kêu gọi của anh. Tháng l nǎm 1922, nổ ra cuộc bãi công mới của công nhân ngành tơ lụa. Bị dồn vào chân tường, bọn chủ xí nghiệp đã phải trả 160.000 piát cho Đào Cǎn Trì, viên tỉnh trưởng Hồ Nam, để hắn trừ khử Vương ái và người bạn của anh mà chúng coi là những người cầm đầu. Thế là ngày 17 tháng 1 nǎm 1922, vào 3 giờ sáng, Vương ái đã ngã xuống sau khi bị 3 nhát gươm của bọn tay chân viên tỉnh trưởng. Đầu anh không bị đứt lìa và sau khi bị tấn công, anh còn có thể nhận biết mọi người. Anh đã qua đời sau 2 giờ đau đớn.

Phạm Ân Kim sinh nǎm 1897 cũng ở Hồ Nam, anh học ở trường dạy nghề “dệt và chải sợi”. Nǎm 1917, tốt nghiệp trường này và đến làm việc tại xưởng sản xuất vải sợi. Nǎm 1920, anh làm quen với Vương ái và giúp Vương ái lập ra Hội liên hiệp công nhân Hồ Nam, làm tổng biên tập tuần báo Người lao động, cơ quan ngôn luận của Hội. Bút pháp của anh vừa giản dị, gây xúc cảm lại giàu hình ảnh, rất được công nhân ưa thích. Anh đã cùng với Vương ái đưa một số cuộc bãi công của thợ in, thợ cắt tóc, thợ mộc, v.v. đến thắng lợi. Phạm Ân Kim là một cán bộ tuyên truyền giỏi. Lời phát biểu của anh đầy sức thuyết phục và đầy nhiệt tình, cũng giống như các bài và các tác phẩm của anh. Trong số các tác phẩm do anh viết, chúng tôi xin nêu lên bài “Cuộc đối thoại giữa hai công nhân” và “Tài nǎng của người lao động” (kịch viết cho nhà hát) và những bài khác. Có thể thấy anh có mặt trong tất cả mọi cuộc đấu tranh của sinh viên và công nhân. ở đâu anh cũng nổi bật nhờ hoạt động tích cực và tài hùng biện. Từ sau cuộc bãi công cuối cùng của công nhân ngành tơ lụa, anh đã nhiều lần bị bắt cùng với Vương ái. Sau cái gọi là xử án, bọn chúng đã tuyên án tử hình các anh. Phạm Ân Kim lúc ấy đã trả lời tên chánh án: “Nếu ông muốn giết chết chúng tôi, ít ra ông cũng phải giải thích xem chúng tôi phạm tội gì”. Tên chánh án với nét mặt hầm hầm dữ tợn đã đáp lại: “Các anh sẽ được biết tường tận điều đó khi nào người ta chặt đầu các anh”. Họ đã bị hành quyết vào khoảng 3 giờ sáng. Sáng hôm sau, tên tỉnh trưởng sát nhân đã tuyên bố rằng, Vương ái và Phạm Ân Kim là những kẻ vô chính phủ, đã tuyên truyền những tư tưởng độc hại, giấu vũ khí và sau hết, lập ra tổ chức để lật đổ chế độ hiện hành.

Nhưng các anh, hai người đồng chí của chúng ta, đã không hy sinh vô ích. Máu của các anh đã đổ sẽ làm thấm đượm thêm mầu lửa cho ngọn cờ cách mạng vô sản, bằng sự hy sinh của mình, các anh sẽ thức tỉnh toàn thể giai cấp vô sản Trung Quốc trước đây vẫn còn thụ động và thờ ơ.

TỔ CHỨC CỦA THANH NIÊN CỘNG SẢN

Nǎm 1922, có đặc điểm là những cuộc nổi dậy của công nhân đã tǎng lên hết sức mạnh mẽ. Hành động giết hại các đồng chí của chúng tôi đã không xa lạ với niềm thức tỉnh nồng nhiệt ấy – hơn 1.700 nam nữ sinh viên và công nhân đã gia nhập “Thanh niên cộng sản”. Điều đó thì bọn đao phủ đã không ngờ tới. Đại hội lần thứ nhất họp ở Quảng Châu từ ngày 5 đến ngày 10 tháng 5 nǎm 1922.

Dưới đây là một số đoạn trích từ các đề cương đã được thông qua tại Đại hội:

l. Tình trạng đất nước bị chia cắt và các cuộc nội chiến nổ ra là do chủ nghĩa tư bản ngoại quốc gây ra, được bọn phản bội người Trung Quốc, bọn giả nhân giả nghĩa, bọn đày tớ của chủ nghĩa tư bản ủng hộ. Chúng đã bán cho ông chủ ngoại quốc tất cả các nguồn sinh lực của đất nước, tất cả đời sống kinh tế của tổ quốc mình.

2. Chủ nghĩa tư bản Trung Quốc đã buộc người ta phải thấy sự bóc lột của nó ngày càng tàn bạo. Nó không tốt hơn người anh em ngoại quốc của nó, bởi vì nó du nhập của người anh em đó chế độ bóc lột và áp bức.

3. Tên cu lắc tư bản chủ nghĩa ngự trị và làm khánh kiệt số quần chúng bao gồm bần nông, buôn bán nhỏ, tiểu chủ và tất cả công nhân.

4. Người tiểu chủ bị đẩy vào con đường phá sản và tiêu vong do bị hai tầng áp bức của tư bản ngoại quốc và chế độ quân phiệt bản xứ, bản nǎng tự vệ khiến họ phải đấu tranh chống lại hai kẻ thù ấy.

Cuộc khởi nghĩa nǎm 1900 đã chứng tỏ rằng, tầng lớp trung lưu không muốn chịu đựng thêm nữa chủ nghĩa tư bản ngoại quốc. Cuộc cách mạng nǎm 1911 chỉ rõ rằng, quần chúng đã hoàn toàn chán ngấy chế độ phong kiến cũng như nền quân chủ.

5. Cuộc đấu tranh này chống lại chế độ quan liêu và giới tài phiệt trong đời sống kinh tế và chính trị của nhân dân có ý nghĩa lịch sử quan trọng. Nếu cuộc đấu tranh ấy đem lại thắng lợi, thì nó sẽ bảo đảm nền độc lập dân tộc trong chính sách đối ngoại và trong đời sống nội bộ của đất nước, nó sẽ đem lại tự do báo chí, lập hội, v.v., cũng như đem lại chế độ đầu phiếu phổ thông. Đó là giai đoạn lịch sử tất yếu. Giai cấp vô sản phải hành động để thúc đẩy cho thắng lợi của mình. Bằng hành động giúp lật đổ chế độ cũ, chúng ta tập hợp lực lượng và huấn luyện để chuẩn bị cho cuộc cách mạng sắp tới, cuộc cách mạng vô sản.

6. Tuy nhiên, chúng ta không được quên rằng, mặc dù chúng ta được hưởng một ít quyền lợi nhờ cuộc cách mạng tiểu tư sản ấy, nhưng những lợi ích ấy không phải là mục tiêu của chúng ta và sẽ không đem lại sự giải phóng hoàn toàn cho chúng ta. Ngay sau khi lật đổ được giai cấp thống trị, giai cấp tư sản nhỏ sẽ tự động biến thành giai cấp cao nhất và giai cấp bóc lột. Vấn đề của chúng ta – vấn đề chủ nghĩa cộng sản – vẫn hoàn toàn phải được đặt ra.

7. Vì vậy, ngay sau khi cuộc cách mạng tư sản kết thúc, chúng ta phải lập tức bắt tay vào việc tổ chức cuộc cách mạng vô sản. Mục tiêu của nó là thiết lập các Xôviết công nhân và nông dân, nghĩa là chuyển giao toàn bộ quyền lực chính trị và quyền lực kinh tế vào tay giai cấp vô sản.

8. Cuộc cách mạng ấy nổ ra nhanh hay chậm còn phụ thuộc vào tình hình quốc tế, trình độ tổ chức và nhịp độ đấu tranh của giai cấp công nhân Trung Quốc.

9. Thanh niên cộng sản Trung Quốc được lập ra bởi thanh niên công nhân Trung Quốc và tồn tại để phục vụ thanh niên công nhân. Nó sẽ tạo ra và giành được sự giải phóng của mình: xã hội hoá tất cả tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng, thực hiện nguyên tắc: “Ai không lao động, người đó sẽ không được ǎn”.

10. Thanh niên cộng sản không chỉ đấu tranh nhằm cải thiện lao động của trẻ em, mà còn mở rộng những đòi hỏi cấp bách của mình nhằm bảo vệ nữ thanh niên và sinh viên. Nó tuyên truyền ý thức giai cấp và đào tạo thanh niên cho cuộc cách mạng vô sản.

11. Kết quả ấy không thể đạt được trong một sớm một chiều mà lại không có sự chuẩn bị. Vì vậy thanh niên cộng sản phải có quy chế chặt chẽ, các mệnh lệnh và chỉ thị chính xác.

NHỮNG YÊU SÁCH CẤP BÁCH

Chính trị:

a) Thủ tiêu chế độ quân phiệt, chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa tư bản.

b) Quyền phát ngôn không hạn chế cho công nông.

c) Tự do báo chí, hội họp, lập hội và bãi công.

Kinh tế:

a) Chế độ ngày làm 6 giờ cho trẻ em, ngày làm 8 giờ cho người lớn. Cấm tuyển lao động các em dưới 12 tuổi.

b) Mỗi tuần được nghỉ 36 giờ, hoàn toàn được nghỉ vào các ngày lễ.

c) Cấm chủ và thợ học việc ký các hợp đồng tư nhân. Ban hành các đạo luật bảo vệ giới học nghề.

d) Cải thiện điều kiện vệ sinh trong lao động. Cấm sử dụng lao động trẻ em dưới 16 tuổi trong các ngành sản xuất nguy hiểm.

e) Trả công ngang nhau cho nam nữ công nhân. Phụ nữ được nghỉ hai tháng được hưởng lương trong thời gian sinh đẻ.

Giáo dục:

a) Thanh niên cộng sản tổ chức các câu lạc bộ, các lớp học, các tổ chức giáo dục nhằm phát triển ý thức xã hội trong thanh niên công nhân và thanh niên nông dân. Nó sẽ xuất bản các báo, tạp chí và sách nhằm mục đích bảo vệ và tuyên truyền. Sau hết, nó phải giúp dân chúng lớn tuổi mù chữ có được trình độ học vấn phổ thông.

b) Hệ thống giảng dạy sẽ được thay đổi sao cho con em người nghèo được đi học.

c) Chế độ học không mất tiền và chế độ tự quản cho sinh viên.

d) Bình đẳng giữa các tôn giáo và các dân tộc. Thanh niên cộng sản cần phải giúp đỡ phong trào thanh niên, phải đấu tranh chống thủ đoạn ngu dân tôn giáo và tất cả những gì có thể làm tǎm tối đầu óc thanh niên.

Thanh niên cộng sản cho rằng, vấn đề giải phóng các dân tộc thuộc địa là vấn đề quốc tế, vì vậy phải giúp đỡ tất cả mọi dân tộc trong cuộc đấu tranh của họ.

Sau Đại hội, Ban chấp hành mới ghi nhận rằng, đã thành lập thêm được 6 chi hội địa phương, nâng tổng số lên 22 chi hội.

Báo “Đội tiền phong” được phát hành.

Các hình thức đấu tranh:

a) Nhân kỷ niệm ngày mất của Rôda Lúcxǎmbua và Các Lípnếch, đã tổ chức những cuộc biểu tình lớn ở Thượng Hải, Bắc Kinh, Quảng Châu và ở các tỉnh khác.

b) Thanh niên cộng sản tham gia rất tích cực vào phong trào bài mê tín: ở khắp nơi đều có các hội bài mê tín, tập hợp được gần 30.000 thành viên. Phổ biến các bài thuyết trình, các sách mỏng và những bản tuyên ngôn, đồng thời đã tiến hành các hội nghị.

c) Đã tiến hành thắng lợi cuộc biểu tình ngày 1-5.

d) Tại tất cả các tỉnh có những chi hội địa phương đều đã tiến hành ngày chủ nghĩa Mác. Đã phân phối các bản tuyên bố và các cuốn sách cổ động.

e) Thanh niên cộng sản đã ủng hộ cuộc bãi công của thợ dệt ở Thượng Hải. Ban chấp hành của nó đã gửi các thông tri đến tất cả các tổ chức công nhân để yêu cầu họ giúp đỡ, trong 3 ngày Ban chấp hành đã thu được hơn 900 piát qua việc mở đợt đǎng ký. Có 10 đồng chí thuộc hội “Thanh niên cộng sản” đã bị cảnh sát bắt vì lý do đó. Chỉ sau khi cuộc bãi công của thợ dệt kết thúc họ mới được thả. Giới thanh niên tràn đầy những dự định tốt đẹp và nhiệt tình đã hoạt động hǎng hái. Tuy nhiên, họ vẫn không liên hệ được với quần chúng. Tình trạng ấy là do thiếu các chỉ thị và kinh nghiệm.

Tại Đại hội lần thứ III của Quốc tế Thanh niên cộng sản, đồng chí Liêu Nhân Trần đã dự với tư cách đại biểu. Sau khi trở về đồng chí đã triệu tập Đại hội toàn quốc lần thứ II. Đại hội được triệu tập vào tháng 7 nǎm 1923 ở Nam Kinh. Đã xem xét và tiếp nhận các đề cương của Đại hội quốc tế. Những đoạn dưới đây của mệnh lệnh phải được thực hiện:

a) ủng hộ đòi hỏi hằng ngày của thanh niên công nhân.

b) Đi vào quần chúng để kết nạp những thành viên mới thuộc nam nữ công nhân.

c) Thành lập các chi bộ nhà máy.

Đại hội toàn thế giới đã tán thành các đề cương do Thanh niên cộng sản Trung Quốc trình bày, những đề cương ấy liên quan đến chính sách cần áp dụng đối với “Quốc dân đảng”; các hội viên hội thanh niên cộng sản phải bằng mọi cách giúp mở rộng và củng cố đảng cách mạng ấy, luôn luôn tuyên truyền rộng rãi những nguyên tắc cộng sản chủ nghĩa. Các hội viên Hội thanh niên cộng sản nào đồng thời có tham gia “Quốc dân đảng” phải luôn luôn chịu sự kiểm soát của Ban chấp hành Thanh niên cộng sản và phục tùng các chỉ thị của nó. Tuy tham gia công việc của “Quốc dân đảng”, nhưng các hội viên của Hội thanh niên cộng sản không được coi nhẹ việc tuyên truyền tư tưởng cộng sản và trong tất cả mọi trường hợp phải thể hiện tính độc lập về tư tưởng và tổ chức. Các hội viên ấy chịu trách nhiệm trước đảng mình, nghĩa là trước Hội thanh niên cộng sản.

Vì một mặt, do cấu trúc cách mạng tự nhiên của thanh niên nông dân, và mặt khác, cũng do có một số lớn binh lính xuất thân từ thanh niên nông dân, nên Hội thanh niên cộng sản phải dành sự chú ý đặc biệt cho công tác theo hướng này, đặc biệt đẩy mạnh công tác giác ngộ giai cấp trong thanh niên nông dân để họ thành bạn chiến đấu cách mạng của mình. Đòi phải trả cùng một mức tiền công cho thiếu niên làm cùng loại công việc như nông dân người lớn. Trẻ em nông thôn là những người tham gia sản xuất trong tương lai, phải được học hành một cách tương ứng. Thanh niên cộng sản thu thập dữ kiện về tình hình kinh tế của dân cư nông

thôn để hành động cho phù hợp với tình hình.

Giáo dục và tuyên truyền

Bằng những bằng chứng đơn giản và rõ ràng, làm cho quần chúng hiểu rõ lợi ích thật sự của mình. Dần dần đưa quần chúng đến chỗ nhận thức được sự cần thiết phải thay đổi chế độ xã hội hiện hành. Huấn luyện quần chúng nắm vững các phương pháp của tổ chức công nhân. Hoạt động theo hướng đó nhằm làm cho tất cả thanh niên nông dân, thanh niên công nhân và thanh niên học sinh hiểu rõ và thừa nhận các tư tưởng của cách mạng dân tộc và cách mạng quốc tế.

Ra lời kêu gọi gửi tất cả thanh niên công nhân, thanh niên nông dân, binh lính và sinh viên với những lời kết thúc dưới đây:

Đả đảo chủ nghĩa quân phiệt!

Đả đảo chủ nghĩa đế quốc!

Đả đảo bọn tư bản bóc lột!

Cách mạng toàn thế giới muôn nǎm!

Hiện nay “Hội thanh niên cộng sản” có 6.000 hội viên. Các nhóm và các chi hội dần dần được lập ra trong khắp đất nước. Sinh viên và thanh niên kiều bào cũng thành lập các nhóm cộng sản ở nước ngoài. Trong số đó có hơn l00 người đã học chủ nghĩa Mác tại Trường đại học cộng sản của những người lao động phương Đông ở Mátxcơva.

cpv.org.vn

—————————-

78. Trung quốc và thanh niên Trung Quốc: Trong thời gian hoạt động ở Liên Xô và học tập ở Trường đại học phương Đông (1924), Nguyễn Ái Quốc đã gặp gỡ, trao đổi với nhóm thanh niên Trung Quốc học ở đây. Người đã tập hợp những tư liệu về lịch sử và phong trào cách mạng Trung Quốc và tổ chức viết thành cuốn sách Trung Quốc và thanh niên Trung Quốc. Sách viết bằng tiếng Pháp, được dịch ra tiếng Nga, Nhà xuất bản Mátxcơva mới xuất bản nǎm 1925. Cuốn sách giới thiệu khái quát lịch sử, địa lý, kinh tế, vǎn hoá, xã hội và con người Trung Quốc. Cuốn sách cũng trình bày tình cảnh các tầng lớp nhân dân Trung Quốc qua các giai đoạn lịch sử và nhất là thời kỳ bị chủ nghĩa tư bản quốc tế áp bức. Chủ nghĩa đế quốc xâm nhập vào Trung Quốc là nguồn gốc của mọi cǎn bệnh xã hội: đói khổ, bệnh tật, chết chóc. Nông dân bị bóc lột hà khắc. Công nhân bị đày đọa trong các công xưởng nhà máy. Thanh niên bị đầu độc, bưng bít. Cuốn sách cũng chỉ rõ những nét đặc trưng về phong trào cách mạng Trung Quốc, sự khởi sắc của phong trào công nhân và đề ra những nhiệm vụ chủ yếu của tuổi trẻ Trung Quốc trong sự nghiệp cách mạng. Tr.369.

About these ads