Những thủ đoạn của đế quốc Pháp

Khủng bố trắng đang hoành hành dưới đủ mọi hình thức. Đế quốc đóng đồn binh ở khắp các thôn xã, chúng tổ chức xã đoàn 1 (giống như dân đoàn 2 ở Trung Quốc) để canh phòng ngày đêm. Lập danh hộ ở mỗi làng để kiểm soát những người lạ mặt. Cấm đi lại từ vùng này sang vùng khác. Độc ác hơn là chúng cho phép bọn tư sản được quyền đốt nhà và giết người. Chúng chia thành phố ra thành nhiều khu, ở mỗi khu phố tên trưởng phố được quyền kiểm soát tất cả dân chúng. Chính phủ của chúng ra mặt tuyên truyền vu cáo cộng sản.

Ngoài chính sách khủng bố, bọn đế quốc Pháp còn thực hiện một chính sách lừa bịp: lập Hội đồng cải lương, Hội đồng hoà giải tư bản và lao động, v.v.. Chúng giao trách nhiệm cho đốc công ở nhà máy và trưởng phố phải ngǎn ngừa phong trào cách mạng ở nhà máy và khu phố. Chúng đưa mật thám vào các xí nghiệp tổ chức hội họp thợ thuyền để phá những cuộc bãi công.

Bọn đế quốc còn thuê người viết báo xuyên tạc chủ nghĩa cộng sản và vu cáo Nga – Xô.

Tình hình nội bộ Đảng ở Bắc Kỳ:

1. Trong khi các đồng chí Trung ương bận họp Hội nghị tháng 10-1930, một Xứ uỷ lâm thời được thành lập gồm ba đồng chí Bí thư ba Tỉnh uỷ lớn. Nhưng không một đồng chí nào được giao trách nhiệm rõ ràng và cũng không đồng chí nào có đủ khả nǎng để lãnh đạo mọi công tác trong xứ. Do đó các tỉnh đều tự trị, trong khi đó thì mọi công việc vẫn ở tình trạng hỗn loạn.

2. Có 6 tỉnh đã có tổ chức: Hải Phòng, Hà Nội, mỏ than Hòn Gai, Nam Định, Thái Bình và Phủ Lý (hai tỉnh sau là những tỉnh hoàn toàn nông nghiệp).

Ngoài việc lãnh đạo Ban phụ trách Hà Nội, một trong ba đồng chí ấy còn phải lãnh đạo các Ban giao thông, tài chính, tuyên truyền và huấn luyện. Do đó việc in truyền đơn và sách báo không chạy và tình hình tài chính thiếu thốn đến nỗi các đồng chí thường thiếu gạo ǎn.

Vì không đủ đồng chí nên Ban giao thông phải nhờ hội viên Công hội giúp việc, có khi phải nhờ đến cả người ngoài nữa (Ban tài chính cũng vậy).

Do đó công việc của hai Ban đó không tốt.

Có nhiều vụ bắt bớ và khủng bố trắng ngày càng dữ dội, nên tổ chức ở nhiều tỉnh bị tan vỡ (có tỉnh vì đấu tranh cũng có tỉnh vì không đấu tranh).

Cho nên các Tỉnh uỷ đã phải để hết thì giờ và tìm hết mọi cách để bổ cứu tình trạng đó.

3. Hiện nay, phần lớn các chức vụ quan trọng đều do các đồng chí mới thiếu kinh nghiệm đảm nhiệm. Hầu hết các đồng chí cấp uỷ đều được chỉ định chứ không bầu. Nhưng mỗi khi có bầu cử, kết quả của cuộc bỏ phiếu rất được coi trọng. Trước đây ở trong Trung ương, mỗi đồng chí phải phụ trách một tỉnh chứ không phụ trách các Ban (giao thông, tài chính, tuyên truyền, v.v.). Nay thì có một đồng chí Trung ương, ngoài những trách nhiệm khác của mình, còn phụ trách công tác giao thông và ấn loát nữa.

Từ Tỉnh uỷ đến chi bộ, các đồng chí chỉ biết có: tổ chức. Chưa khi nào được huấn luyện, nên các đồng chí không thể hiểu được mục đích của Đảng.

Hơn nữa, nhiều đảng viên trước kia đã tham gia Đông Dương cũ và “Thanh niên” vẫn còn giữ tư tưởng bè phái và xu hướng khủng bố.

4. ở các chi bộ, các đồng chí chỉ biết làm theo chỉ thị cấp trên chứ không có quyết nghị, không có kế hoạch làm việc riêng. Các đồng chí không hiểu chính trị, kinh tế là gì thậm chí cũng có những đồng chí không biết Đảng khác quần chúng như thế nào.

Quần chúng

1. Các việc tổ chức công nhân tiến bộ ít. Chúng ta có hội viên ở nhiều nhà máy; nhưng hội viên rất phân tán, đây 2, 3 người, kia 5, 10 người. Công hội mạnh nhất là Công hội Nhà máy dệt Nam Định có 239 hội viên. Nhưng không phải hết tất cả mọi hội viên đều đã nhận thức rõ vai trò của mình.

2. Nông dân rất mạnh ở các tỉnh Thái Bình và Hà Nam. Chúng tôi đã tìm cách tổ chức quần chúng nông dân ở khắp các tỉnh nhưng nông dân quá phân tán. Huyện khá nhất chỉ có 80 nông dân vào tổ chức.

3. Kômxômôn (Thanh niên Cộng sản đoàn). Thanh niên không đông lắm. ở nhiều nơi họ sinh hoạt với người lớn và chưa tổ chức riêng.

4. Phụ nữ, M.O.P.R. (Quốc tế Cứu tế đỏ), Hội phản đế đồng minh: chưa có gì.

Ở trong nhiều tổ chức có cả đảng viên lẫn hội viên, đảng viên không hiểu rõ vai trò của mình.

Hải Phòng

7 chi bộ nhà máy: 20 đảng viên.

2 chi bộ đường phố: 10 đảng viên.

Các chi bộ khác: 7 đảng viên (2 nữ).

Trường thực nghiệp: 8 thanh niên cộng sản.

8 nghiệp đoàn thợ thuyền: 101 hội viên (4 thanh niên

và 11 nữ).

Hòn Gai (mỏ)

Đảng: 8 đảng viên.

Công hội: 10 hội viên.

(trước những thất bại vừa rồi, có 20 đảng viên,

10 thanh niên C.S và 30 hội viên Công hội).

Nam Định

6 nhà máy: 21 đảng viên.

Chi bộ đường phố: 34 đảng viên (4 nữ).

Thanh niên C.S: (15 công nhân) 31 đoàn viên.

Công hội: 293 hội viên (210 thanh niên, 21 nữ thanh niên).

Các làng: 60 đảng viên, 100 hội viên Nông hội.

Phủ Lý 82 đảng viên (6 nữ).

Thanh niên cộng sản (nông dân): 13.

366 hội viên Nông hội.

Thái Bình

8 chi bộ làng: 38 (10 nữ).

3 chi bộ thanh niên cộng sản: 14.

270 nông dân

Hải Dương đồng chí nông dân: 9 (mất liên lạc)

Hà Đông đồng chí nông dân: 12

51 đồng chí nông dân

Bắc Ninh đồng chí nông dân: 6

Hà Nội đảng viên: 6 (4 nữ), nữ thanh niên: 29 ở trong

các khu vực.

Tổng số: đảng viên: 344 (31 nữ), 82 công nhân, 209 nông dân.

Thanh niên cộng sản: 79

Công hội: 404

Nông hội: 818

Phê bình những Nghị quyết của Trung ương.

1. Về vấn đề Nga – Xô, nên thêm “dưới sự lãnh đạo của Đảng bônsêvích, vô sản Nga đã giành được chính quyền”.

2. Nói sự ổn định kinh tế tạm thời không đúng. Phải nói như trong Nghị quyết của Quốc tế Cộng sản “Sự ổn định bộ phận, bấp bênh và tạm thời”.

3. Trong thời kỳ thứ hai, cần nói đến những thất bại của cách mạng ở Java và ở Trung Quốc.

4. Trong thời kỳ thứ ba, phải nói đến việc những người quốc gia chuẩn bị một cuộc biến động thảm khốc và đưa thêm nhiều ví dụ hơn nữa về những mối bất hoà xuất hiện trong thời kỳ ấy.

5. Phải giải thích rõ hơn nữa những mối quan hệ giữa cách mạng Đông Dương với cách mạng thế giới.

6. “Võ trang bạo động” nghĩa là thế nào?

7. Phong trào công nhân: Nghị quyết nói: “Mỗi cuộc đấu tranh kinh tế cũng là một cuộc đấu tranh chính trị”. Câu này không rõ, nên nói: “Mỗi cuộc đấu tranh kinh tế đều có tính chất chính trị”.

8. Nói như nghị quyết: “Mục đích cuối cùng của Công hội là xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Không rõ lắm.

Phải giải thích nhiều hơn nữa về ý nghĩa của tổ chức Công hội.

9. Câu: “Đảng là bộ tham mưu của Công hội” nghĩa quá hẹp; nên nói: “Đảng là bộ Tổng tham mưu của giai cấp vô sản và của nhân dân lao động”.

10. Phong trào nông dân – chiến lược và chiến thuật: không rõ lắm. Chưa đề cập đến vị trí quan trọng của cách mạng ruộng đất trong từng giai đoạn cách mạng. Mối quan hệ giữa vấn đề nông dân và ruộng đất với cách mạng: chưa rõ lắm.

11. Tại sao lại định ra những điều lệ hình thức khác nhau cho Nông hội và Công hội.

Phương pháp công tác

1. Xứ uỷ phải gửi chỉ thị giải thích rõ ràng tại sao phạm khuyết điểm và định rõ phương pháp công tác từ nay về sau.

2. Các Bí thư Xứ uỷ và Tỉnh uỷ phải xem mình là những cố vấn, là người huấn luyện giáo dục, chứ không nên bao biện tất cả mọi công việc trong địa phương như trước đây.

3. Mỗi cấp uỷ phải quy định nhiệm vụ cho mỗi chi bộ, mỗi đảng viên. Có như vậy mỗi người mới có một trách nhiệm nhất định.

4. Chỉ thị gửi cho chi bộ phải dễ hiểu để các đồng chí có thể thảo luận và nghiên cứu thi hành: không khi nào được dùng mệnh lệnh. Phải chú ý kiểm tra công tác của các tổ chức Đảng cấp dưới.

5. Các Ban chấp hành của tất cả mọi tổ chức của Đảng phải có những đồng chí xung phong làm việc cho cấp uỷ, khi bị khủng bố hoặc có ai trong cấp uỷ vắng mặt, các đồng chí đó sẵn sàng có thể thay thế.

Tài chính

Chương trình đã quy định tổ chức một Ban tài chính

Tuyên truyền và giáo dục

1. Phải tổ chức một Ban gồm 5 đồng chí phụ trách tuyên truyền và giáo dục đảng viên.

2. Phải ra một tờ báo 4 trang, xuất bản mỗi tuần hai kỳ, để tuyên truyền giáo dục quần chúng và đảng viên. Báo đó lấy tên là “Tiên phong” (The Forward).

3. Để đào tạo cán bộ phải tổ chức một trường huấn luyện, thời hạn học là một tháng. Chương trình học tập như sau:

a) Danh từ chính trị;

b) Tính chất và mục đích của Đảng;

c) Chương trình của Đảng;

d) Tổ chức Đảng;

e) Chi bộ;

f) Phong trào công nông;

g) Chính cương.

Dần dần có kinh nghiệm chương trình này có thể thay đổi.

Công tác trước mắt

1. Phải giải thích cho đảng viên hiểu những nghị quyết của Trung ương.

2. Sửa chữa những sai lầm và khuyết điểm.

3. Đấu tranh chống những khuynh hướng sai.

Công vận

1. Chuẩn bị tổ chức trong các ngành công nghiệp theo ngành dọc;

2. Trong 3 tháng tới, Nam Định phải tổ chức Đại hội công nhân toàn tỉnh;

3. Trong 4 tháng tới, Hải Phòng phải tổ chức Đại hội công nhân toàn tỉnh;

4. Tǎng cường tuyên truyền ở các hầm mỏ;

5. Tổ chức một Tổng Công hội ở Hà Nội;

6. Đưa đồng chí vào các ngành công nghiệp quan trọng, các đồn điền, các nhà máy điện và ngành vận tải;

7. Tổ chức đoàn thanh niên và hội phụ nữ trong mỗi công hội. Thanh niên và phụ nữ phải tham gia lãnh đạo Công hội;

8. Bắt đầu tuyên truyền những công nhân thất nghiệp;

9. Tổ chức kỷ niệm ngày 25 tháng 2;

10. Phát triển các tổ chức phụ thuộc, hợp pháp và nửa hợp pháp;

11. Liên kết chặt chẽ công nhân với nông dân.

12. Trong 3 tháng tới, Thái Bình và Phủ Lý phải có Nông hội tỉnh.

Hội nghị họp 15 hôm, nhưng tranh luận chưa đầy đủ và chu đáo, các đồng chí luôn luôn hướng cuộc thảo luận vạch cho hết những cuộc thất bại, hơn nữa hội nghị chưa được chuẩn bị từ trước.

Tài liệu của Viện Lịch sử Đảng.
cpv.org.vn

About these ads