Bác Hồ với đồng bào các dân tộc thiểu số

Đại đoàn kết

Xuất phát từ lịch sử và thực tiễn đất nước, Hồ Chí Minh khẳng định: dân tộc Việt Nam là một khối thống nhất của các dân tộc anh em, được hình thành trong quá trình dựng nước và giữ nước; các dân tộc thiểu số là một bộ phận hợp thành của dân tộc Việt Nam; các dân tộc thiểu số cũng như dân tộc Kinh đều bị thực dân, đế quốc áp bức, bóc lột và đều có nguyện vọng đánh đuổi thực dân, đế quốc; xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc.

Theo Hồ Chí Minh, vấn đề dân tộc thiểu số có mối quan hệ tương tác, biện chứng với vấn đề giải phóng và phát triển của dân tộc Việt Nam. Một mặt, dân tộc Việt Nam được giải phóng là điều kiện tiên quyết để các dân tộc thiểu số được giải phóng; dân tộc Việt Nam được phát triển là định hướng và điều kiện cho sự phát triển các dân tộc thiểu số. Mặt khác, để giải phóng dân tộc Việt Nam không thể thiếu sự đóng góp của các dân tộc thiểu số; sự phát triển của các dân tộc thiểu số là một động lực cho sự phát triển của dân tộc Việt Nam. Hồ Chí Minh đã thể hiện nhất quán luận điểm nói trên trong quá trình hoạt động cách mạng của Người và phù hợp với nhiệm vụ cách mạng Việt Nam trong từng thời kỳ.

Trong những năm tháng hoạt động ở nước ngoài, ngoài việc thành lập và tham gia hoạt động trong các tổ chức cách mạng, Hồ Chí Minh (khi đó lấy tên là Nguyễn Ái Quốc) đã viết sách báo tập trung lên án chủ nghĩa thực dân Pháp đối với nhân dân Việt Nam, trực tiếp chọn và huấn luyện nhiều cán bộ người dân tộc thiểu số trong các lớp học được mở tại Quảng Tây, Quảng Đông (Trung Quốc).

Ngay sau khi về nước, Hồ Chí Minh đã tiến hành các hoạt động vận động quần chúng. Người trực tiếp biên soạn tài liệu huấn luyện cán bộ, trong đó Người yêu cầu cán bộ phải: “Tìm hiểu phong tục, tập quán, học tiếng địa phương v.v…” Người giao cho một số cán bộ người dân tộc mở lớp huấn luyện quân sự  và tổ chức nhiều hội nghị để củng cố sự đoàn kết giữa các dân tộc…

Trong thời kỳ chuẩn bị tiến tới Tổng khởi nghĩa, Người nhấn mạnh: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thẩy”. Trong “Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa”, Người kêu gọi: “Chỉ có đoàn kết, phấn đấu nước ta mới được độc lập”. Người đã chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, trong đó phần đông là người các dân tộc thiểu số.

Với thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, dân tộc Việt Nam nói chung và các dân tộc thiểu số ở Việt Nam đã thành người chủ của nước Việt Nam độc lập. Quốc hội khóa I đã có sự tham gia của đại diện các dân tộc thiểu số. Với cương vị Chủ tịch nước Việt Nam độc lập, Hồ Chí Minh đã mời đại diện các dân tộc thiểu số tham gia Chính phủ hoặc giữ trọng trách ở các cơ quan Trung ương và địa phương. Ngày 19-4-1946, Người có thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Plâycu, trong đó Người khẳng định: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, GiaRai hay ÊĐê, XêĐăng hay BaNa và các dân tộc thiểu số khác đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt…”

Từ sau ngày Toàn quốc kháng chiến, Người luôn luôn nhấn mạnh nhiệm vụ hàng đầu lúc này là “phải kháng chiến cứu nước”, “đoàn kết hơn nữa để chống xâm lăng”. Người giao cho các ngành hữu quan mở nhiều lớp huấn luyện chính trị, quân sự và cử con em các dân tộc thiểu số sang Trung Quốc, Liên Xô học tập.

Với chiến thắng Điện Biên Phủ, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội; miền Nam tiếp tục cuộc đấu tranh vì mục tiêu dân tộc, dân chủ và hòa bình. Trong thời kỳ mới, vấn đề dân tộc thiểu số ở nước ta đã được Hồ Chí Minh đặt ra và giải quyết trên một bình diện mới, có nội dung mới, phản ánh những nhu cầu cơ bản của các dân tộc thiểu số, từ chính trị đến kinh tế, từ văn hóa đến xã hội v.v… trong đó đoàn kết vì sự phát triển của các dân tộc thiểu số là nhiệm vụ trung tâm. Trong các dịp đi thăm đồng bào các dân tộc ở Việt Bắc, Tây Bắc, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An… Người nhấn mạnh: “Ngày nay chế độ ta là chế độ dân chủ, tất cả nhân dân các dân tộc đều có quyền làm chủ nước nhà” và kêu gọi: “Trước hết, tất cả các dân tộc, bất kỳ to hay là nhỏ, đều phải đoàn kết chặt chẽ, thương yêu giúp đỡ nhau như anh em một nhà”. Nói về nhiệm vụ trong thời kỳ mới, Người chỉ rõ: “Chủ nghĩa xã hội là mọi người dân được áo ấm, cơm no, nhà ở tử tế, được học hành. Muốn vậy thì mọi người phải thi đua tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm”“phải phát triển kinh tế và văn hóa” và nhấn mạnh: Đồng bào dân tộc thiểu số cần có chữ viết của mình; cần đẩy mạnh việc xóa nạn mù chữ, học tập văn hóa, giữ gìn truyền thống văn hóa tốt đẹp của mỗi dân tộc… Người đã chỉ thị cho các cơ quan hữu quan thành lập nhiều trường dành riêng cho con em đồng bào các dân tộc thiểu số. Người còn căn dặn việc trồng cây; giữ gìn vệ sinh làng bản, nhà ở, bảo vệ môi trường, giữ gìn trật tự an ninh… Do đồng bào các dân tộc thiểu số sống phần lớn các tỉnh biên giới, Người nhắc nhở phải đoàn kết, giữ gìn tình hữu nghị với nhân dân các nước có chung biên giới. Người yêu cầu các cấp ủy đảng, chính quyền: “Phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân… áp dụng chủ trương, chính sách phải sát hợp với tình hình mỗi nơi”.

Trong những năm chiến tranh chống Mỹ, cứu nước Người đã chỉ thị cho các cơ quan tiếp tục lựa chọn và đưa nhiều con em đồng bào các dân tộc thiểu số sang các nước xã hội chủ nghĩa học tập, đào tạo và nhiều người trong số đó đã trở thành cán bộ lãnh đạo của Đảng và Nhà nước; nhiều nhà khoa học, nhiều nhà văn hóa có tên tuổi… Dù hoàn cảnh đất nước bị chia cắt song Người luôn luôn quan tâm đến đồng bào các dân tộc thiểu số ở miền Nam.

Hồ Chí Minh gắn bó với đồng bào các dân tộc thiểu số không chỉ về nhận thức mà còn trong tình cảm của Người. Nơi Người đặt chân đầu tiên khi về nước là ở nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số. Người nói một số tiếng dân tộc thiểu số khi cần thiết. Sau khi nước nhà độc lập, với cương vị  Chủ tịch nước, Người đã có thư gửi đồng bào các tỉnh Việt Bắc, trong đó Người viết:“Tôi không bao giờ quên đồng bào Thổ, đồng bào Nùng, đồng bào Mèo… cho đến anh em Hoa kiều, người thì giúp chúng tôi ăn, kẻ thì cho chúng tôi áo…”. Tên gọi Bác Hồ đã trở  thành thân thiết với đồng bào các dân tộc trên đất nước Việt Nam.

Có thể nói, Hồ Chí Minh không chỉ là lãnh tụ mà còn là người bạn đồng hành của mỗi dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Sự đoàn kết của 54 dân tộc anh em trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam là một nhân tố cơ bản đảm bảo thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới của chúng ta.

PGS. TS PHẠM HỮU TIẾN
daidoanket.vn

About these ads