Chiếc áo trấn thủ và mùa đông năm ấy (*)

Chủ tịch Hồ Chí Minh đi tăng gia sản xuất sau giờ làm việc ở Chiến khu Việt Bắc

Mùa đông năm 1948, cơ quan chúng tôi đóng ở bản X, thuộc huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn. Năm ấy là năm rét nhiều, sương muối sa liên tục, hết đợt này đến đợt khác. Sáng ra, sương đóng trắng quanh nhà, có hôm đến tám, chín giờ sương vẫn chưa tan hết. Hai bàn tay, hai bàn chân buốt tê cóng.

Trước khi về nhận công tác ở gần Bác, có nhiều lần anh em phải nằm trong hang núi đá ở Võ Nhai (Thái Nguyên) để tránh quân Pháp nhảy dù. Quần áo ít, không có chăn chiếu, lại gặp cái lạnh của núi đá nên anh T bị ho. Hôm về phục vụ Bác, anh vẫn ho sù sụ suốt ngày, nhiều lúc ho quá, tức ngực tưởng long cả phổi.

Bác phải làm việc nhiều, cần yên tĩnh, nên chúng tôi làm riêng một cái lán nhỏ để Bác ngủ và làm việc ngay tại đó. Tất cả anh em chúng tôi ở lán ngoài, chỉ khi nào cần mới vào lán của Bác. Chính vì thế mà anh T đã giấu được, không để Bác biết anh bị ho.

Trước mắt Bác, anh cố làm ra vẻ khoẻ mạnh, khi nào muốn ho, anh lại lẩn ra chỗ khác. Nhưng hôm đưa thư vào lại đúng lúc tức ngực, ngứa cổ muốn ho, anh cố nín nhưng không tài nào nín được, đành bật ra mấy tiếng.

Đưa thư xong, anh vội chào Bác quay ra, thì Bác ra hiệu cho anh đứng lại. Bác lại đầu giường lấy đưa cho anh một cái áo trấn thủ mà Bác vẫn thường mặc. Bác nói:

- Chú lấy cái áo này mặc vào cho đỡ rét.

- Anh T lưỡng lự không dám nhận. Mùa rét, Bác cũng chỉ có cái áo trấn thủ với chiếc áo bông mỏng mặc ngoài. Anh còn ít tuổi khỏe mạnh, rét một tí cũng không sao, còn Bác thì già rồi, lại phải làm việc nhiều. Nghĩ vậy, anh từ chối:

- Thưa Bác, cháu mặc thế này được rồi ạ.

Như hiểu được ý của anh, Bác nói:

- Cứ lấy mà mặc. Bác đã có áo rồi. Mặc như chú thế này tài nào mà chẳng ho. Thôi mặc vào!

Nhìn đôi mắt hiền từ đầy tình yêu thương trìu mến của Bác, anh không dám từ chối nữa. Nhờ cái áo của Bác giữ ngực được ấm nên vài hôm sau anh đã đỡ và khỏi ho dần. Mỗi lần mặc cái áo, anh lại thấy rạo rực, ấm áp lạ lùng. Sự ấm áp ấy là từ cái áo và cả từ tấm lòng yêu thương, chăm sóc từng ly, từng tý đến đời sống anh em cán bộ của Bác.

(*) Tựa do Tiền phong đặt.

Chuyện về những vết mạng trên áo của Bác

Chú Bốn về đội cảnh vệ chỗ Bác từ năm 1949, là người chuyên giặt là, vá mạng quần áo cho Bác kể lại: “Quần áo Bác mặc chủ yếu có 2 bộ lễ phục. Một bộ mà anh em cảnh vệ gọi là bộ “Ka ki vàng” là bộ lịch sự, Bác mặc từ khi đọc Tuyên ngôn độc lập ở vườn hoa Ba Đình. Bộ thứ hai là bộ “kháng chiến”, được may từ khi Bác lên Việt Bắc và được mặc suốt thời kỳ kháng chiến cho đến sau này. Ngoài ra, hồi đi Chiến dịch Biên Giới năm 1950, Bác có thêm một bộ quân phục màu xanh. Sau này lại may thêm một bộ màu gụ bằng lụa Hà Đông. Bác còn có cái áo len và một chiếc khoác ngoài để mặc rét. Bộ “kháng chiến” là bộ chủ lực nên có nhiều vết mạng. Miếng mạng gần vai khá to là kỷ niệm lần Bác đi chiến dịch Biên Giới năm 1950. Bác thắt bao gạo ngang lưng, cài lá ngụy trang trên mũ, khăn mặt vắt vai. Nhiều chặng đường Bác hành quân với bộ đội, dân công. Một hôm gặp một cụ dân công, Bác cùng cụ nói chuyện và động viên: “Già như cụ còn hết lòng phục vụ tiền tuyến, làm gương cho con cháu”. Cụ dân công nói: “Tôi làm sao bì được với cụ. Cụ tóc bạc như vậy mà vẫn tham gia quân đội. Thế mới gọi là chiến sĩ bạch đầu quân”. Khi qua một đoạn suối, cụ dân công bị sảy chân may được Bác đỡ kịp. Chiếc đinh ở đầu đòn gánh cụ dân công làm rách vai áo Bác.

Miếng mạng ở khuỷu tay áo là kỷ niệm Ngòi Thia (Tân Trào, Việt Bắc). Hôm ấy họp Hội đồng Chính phủ, Bác đi ngựa, Đội trưởng Đội Cảnh vệ đi trước. Đến quãng đường vòng có cây tre đổ chặn ngang đường, ngựa của anh cảnh vệ đã qua rồi, ngựa Bác vừa phi tới, ghìm không kịp. Con ngựa đứng lại quá nhanh, Bác ngã. Anh cảnh vệ sợ quá vội nhảy xuống chạy lại đã thấy Bác gượng dậy. Con ngựa của Bác cũng khôn, nó đứng lại. Đội trưởng Cảnh vệ hỏi Bác: “Bác có làm sao không?”. Vừa kịp nhìn thấy khuỷu tay Bác có vết đất sỏi, lại có dấu máu thấm ra dưới ống quần, đầu gối Bác bị xước, máu đang rỉ ra. Bác nhìn qua rồi gạt đi: “Các chú đừng lo, ta đi thôi.”. Rồi Bác lên ngựa trước. Tới nơi họp, Bác vui vẻ tham gia hội nghị ngay, giờ nghỉ Bác mới chịu để y tá băng vết thương.

Về nhà, các anh cảnh vệ tự phê bình với Bác. Bác cũng tự phê rằng mình có khuyết điểm là giục ngựa phóng nhanh cho kịp giờ họp.

Ở gần gấu áo của Bác lại có vết thâm mờ mờ giặt nhiều lần không sạch. Đó là kỷ niệm Bác đi chống hạn. Cùng đi hôm đó có đại diện Tỉnh ủy. Gặp chỗ đồng bào đang tát nước bằng gầu giai, Bác liền bảo chú Tỉnh ủy đó cùng tát nước với Bác. Khổ nỗi, chú ấy không quen việc nhà nông. Chiếc gầu cứ lẳng nha, lẳng nhẳng, miệng gầu cứ bổ vào máng nước bình bịch. Mồ hôi mồ kê của chú ấy tháo ra như tắm.

Chú Bốn hôm đó có mặt, sợ Bác mệt nên đến xin phép Bác tát thay cho chú Tỉnh ủy. Bác trả lời nhẹ nhàng: “Không được, để chú ấy tập làm dân với Bác. Muốn lãnh đạo nông nghiệp, phải biết cách làm ăn của nông dân chứ”. Lần đó, Bác đã giúp chú cán bộ kia tập tát nước bằng được. Chỗ bùn ở dây gầu bám vào áo Bác đã khô đi nên chú Bốn về giặt xà phòng thế nào cũng không sạch.”

Theo Tiền Phong Online
Tâm trang (st)

bqllang.gov.vn

About these ads