Công tác tư tưởng, lý luận và việc chống quan liêu theo quan điểm Hồ Chí Minh

Là một nhà chiến lược thiên tài và nhà hoạt động thực tiễn sâu sát tỉ mỉ, Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng đến việc chống quan liêu trong điều kiện Đảng cầm quyền. 

Đúng 15 ngày sau Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh đã nhìn thấy sự xuất hiện những mầm mống đầu tiên của bệnh quan liêu trong cán bộ, đảng viên. Ngày 17-9-1945, viết thư gửi các đồng chí tỉnh nhà (Nghệ An), Hồ Chí Minh chỉ rõ cán bộ ở các địa phương mắc phải những khuyết điểm nhất là: hẹp hòi, bao biện, lạm dụng hình phạt, hủ hoá, lên mặt làm quan cách mạng, độc đoán chuyên quyền, lấy của chung làm của riêng, thậm chí dùng pháp luật nhà nước để trả thù riêng. Từ đó trở đi việc chống quan liêu luôn được Hồ Chí Minh thể hiện một cách đậm nét cả trong tư duy lý luận lẫn hoạt động thực tiễn. Vào đến những ngày tháng cuối cùng của cuộc đời, Hồ Chí Minh viết bài “Nâng cao đạo đức cách mạng quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Trong bài viết này, Hồ Chí Minh phê phán gay gắt những người “tham danh trục lợi”, thích địa vị quyền hành, tự cao, tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh”.

Trong các bài viết, bài nói của mình, Hồ Chí Minh gọi quan liêu là một loại bệnh mà đảng viên, cán bộ dễ mắc phải. Mắc loại bệnh này chủ yếu là “những người và những cơ quan lãnh đạo, nhất là khi Đảng cộng sản nắm quyền lãnh đạo nhà nước và xã hội. Theo Hồ Chí Minh: “Quan liêu là cán bộ phụ trách xa rời thực tế, không điều tra, nghiên cứu đến nơi đến chốn những công việc phải làm, việc gì cũng không nắm vững, chỉ đạo một cách đại khái, chung chung”. Hồ Chí Minh đã trực tiếp hỏi một cán bộ địa phương: “Mùa màng năm nay thế nào?”. Anh ta trả lời: “Việc đó tôi đã động viên nhân dân, đã bày tỏ vấn đề đó một cách đầy đủ nên “công tác xem chừng khá…, chắc là có tiến bộ”. Người hỏi tiếp: “Tóm lại là đã cày cấy được mấy mẫu?”. Anh ta trả lời: “Ở vùng chúng tôi, cày cấy hiện nay chưa đâu ra đâu cả”.

Một người được Hồ Chí Minh gọi là “ông quan liêu””, khi người đó chạy theo hình thức, chỉ biết khai hội. Hồ Chí Minh chỉ rõ bệnh khai hội là “khai hội không có kế hoạch, không thiết thực, khai hội lâu, khai hội nhiều quá”. Trong các buổi khai hội đó “cán bộ khu về tỉnh, cán bộ tỉnh về huyện, cán bộ huyện về làng thì khệnh khạng như ông quan”. Lúc khai hội thì trăm lần như một: “Tình hình thế giới, tình hình Đông Dương; thảo luận, phê bình, giải tán”. Mỗi lần phát biểu “ông cán” nói hàng giờ, nói đâu đâu, còn “công việc thiết thực trong khu, trong tỉnh, trong huyện, trong xã đó thì không đụng đến”. Do đó lúc “ông cán” phát biểu kẻ ngáy, người ngủ chỉ mong ông thôi để được về nhà. Hồ Chí Minh kết luận việc làm hình thức, xa rời thực tế đó khiến “quần chúng sợ khai hội, mỗi lần họ đi khai hội chẳng khác gì đi phu”. Hồ Chí Minh thừa nhận: “Trong Đảng ta, có một số người như thế. Chỉ biết nói là nói, nói giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác. Nhưng một việc gì thiết thực cũng không làm được”. Hồ Chí Minh cho rằng những ai làm việc chủ quan, thoát ly quần chúng, bắt phong trào quần chúng phải đi theo ý muốn chủ quan của mình là những người “khoét chân cho vừa giầy”. Với Hồ Chí Minh những người mắc bệnh quan liêu chỉ biết đóng cửa viết báo cáo, xem báo cáo trên giấy chứ không kiểm tra đến nơi đến chốn. Hồ Chí Minh coi đó là những người lười biếng, những người “nghị quyết đầy túi áo, thông báo đầy túi quần”.

Do xa rời quần chúng, xa rời thực tế, làm việc chủ quan, duy ý chí, nên những người quan liêu, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Sợ phê bình và tự phê bình”. Với Hồ Chí Minh những cán bộ, đảng viên cốt sao “xong chuyện thì thôi”, không phê bình người khác cũng chẳng tự phê bình mình là “những đảng viên và cán bộ ươn hèn, yếu ớt”. Người mắc bệnh quan liêu tất yếu dẫn đến mất dân chủ, độc đoán, chuyên quyền. Tình trạng mất dân chủ, độc đoán, chuyên quyền lại là nguyên nhân của việc vi phạm các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng. Vì vậy khi phác thảo chân dung “ông quan liêu”, Hồ Chí Minh tập trung nêu bật đặc điểm “”thiếu dân chủ, không giữ đúng nguyên tắc lãnh đạo tập thể, phân công phụ trách”. Hồ Chí Minh đặt câu hỏi “Quan liêu là gì?”. Câu trả lời của Người là: Quan liêu là những người phụ trách bất kỳ cấp nào không gần gũi cán bộ, không theo dõi công việc thiết thực, không theo dõi cán bộ để biết tính nết, khả năng, để thấy điều tốt thì khuyến khích, điều xấu thì can ngăn, giáo dục, giúp đỡ sửa chữa. Thế là cán bộ xa thực tế, xa bộ đội, xa dân, không dân chủ.

Theo Hồ Chí Minh, các ông quan liêu khi được phân công phụ trách ở vùng nào thì như một vua con, ở đấy tha hồ hách dịch, hạnh hoẹ. Đối với cấp trên thì xem thường. Đối với cấp dưới thì cậy quyền lấn át. Đối với quần chúng thì ra vẻ quan cách mạng làm cho quần chúng sợ hãi. Cái đầu óc ông tướng, bà tướng ấy làm cho cấp trên xa cấp dưới, đoàn thể xa nhân dân.

Hồ Chí Minh cho rằng bệnh quan liêu để lại những hậu quả nặng nề trên nhiều lĩnh vực. Trước hết nó gây khó khăn cho sự lãnh đạo của Đảng. Ngay từ năm 1952, Hồ Chí Minh đã viết: “Nói tóm lại vì những người và những cơ quan lãnh đạo mắc bệnh quan liêu thành thử có mắt mà không thấu suốt, có tai mà không nghe thấu, có chế độ mà không giữ đúng, có kỷ luật mà không nắm vững”. Đây thực sự là nguy cơ đối với một đảng cẩm quyền.

Trong điều kiện đảng cầm quyền, quan liêu là nguyên nhân chính gây nên nhiều tệ nạn cho nhà nước và xã hội, đặc biệt là tham ô, lãng phí. Theo Hồ Chí Minh muốn lúa tốt thì phải nhổ cỏ cho sạch, nếu không, thì dù cày bừa kỹ, bón phân nhiều, lúa vẫn xấu vì bị cỏ át đi, muốn thành công trong tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm cũng phải nhổ cỏ cho sạch, nghĩa là phải tẩy sạch bọn tham ô, lãng phí. Sở dĩ có tham ô, lãng phí là vì có những người và những cơ quan lãnh đạo mắc bệnh quan liêu. Do đó “những người xấu, những cán bộ kém tha hồ tham ô, lãng phí”. Năm 1952 trong bài “Thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu””, Hồ Chí Minh viết bệnh quan liêu đã ấp ủ, dung túng, che chở cho nạn tham ô, lãng phí. Có nạn tham ô và lãng phí là vì bệnh quan liêu (Hồ Chí Minh nhấn mạnh). Do đó “muốn trừ sạch nạn tham ô, lãng phí thì trước mắt phải tẩy sạch bệnh quan liêu””. Mười năm sau, năm 1962, nói chuyện tại Hội nghị cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước, Hồ Chí Minh vạch rõ: kinh nghiệm chứng tỏ rằng ở đâu có bệnh quan liêu thì ở đó chắc có tham ô, lãng phí. Nơi nào bệnh quan liêu càng nặng thì nơi đó càng nhiều lãng phí, tham ô. Hồ Chí Minh kết luận “Bệnh quan liêu là nguồn gốc sinh ra lãng phí, tham ô… Cho nên muốn triệt để chống tham ô, lãng phí thì phải kiên quyết chống nguồn gốc của nó là bệnh quan liêu”. Do ý thức sâu sắc quan liêu là nguồn gốc của tham ô, lãng phí nên trong di sản Hồ Chí Minh chúng ta tìm thấy có những bài viết với tiêu đề “”Chống quan liêu, tham ô, lãng phí” nghĩa là quan liêu đặt trước tham ô, lãng phí.

Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ (khoá VII), 1-1994 của Đảng Cộng sản Việt Nam nêu lên bốn nguy cơ đối với chế độ. Một trong bốn nguy cơ đó là nạn tham nhũng và tệ quan liêu. Từ đó đến nay Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương và giải pháp để chống tham nhũng, quan liêu, nhưng xem ra nguy cơ này vẫn chưa bị đẩy lùi, kết quả đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu chưa được như ý Đảng, lòng dân mong muốn. Vì vậy, cuộc đấu tranh chống các tệ nạn ấy không thể dừng lại và phải kiên quyết hơn. Tuy nhiên, phù hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh cần tập trung vào việc đề ra các chủ trương, giải pháp thiết thực chống nguyên nhân của nạn tham nhũng là tệ quan liêu.

Theo Hồ Chí Minh: “Cần khẳng định dứt khoát rằng số đông cán bộ và công nhân ta đều tận tuỵ và trong sạch” nhưng vẫn còn một số người “phạm sai lầm tham ô, lãng phí và còn mang nặng bệnh quan liêu… Vì vậy chúng ta phải kiên quyết chống lại những tệ hại ấy”. Do mối liên hệ chặt chẽ giữa quan liêu với tham ô, lãng phí nên việc đấu tranh chống lại những tệ nạn này cũng không thể tách rời nhau.

Với Hồ Chí Minh, quan liêu, tham ô, lãng phí là không thể chấp nhận được. Tuy vậy, tuỳ theo quy mô tính chất và hậu quả do quan liêu, tham ô, lãng phí gây nên, Hồ Chí Minh có những cách xử lý, phê phán khác nhau.

Trước hết, quan liêu, tham ô, lãng phí có hại cho nhân dân, cho Chính phủ, đoàn thể, cho kháng chiến và kiến quốc nên quan liêu, tham ô, lãng phí là tội ác, là kẻ thù nguy hiểm của dân tộc. Hồ Chí Minh cho rằng dù cố ý hay vô tình, quan liêu, tham ô, lãng phí làm chậm trễ cuộc kháng chiến và kiến quốc của ta, phá hoại đạo đức cách mạng là cần, kiệm, liêm, chính. Do vậy, quan liêu, tham ô, lãng phí là bạn đồng minh của thực dân và phong kiến, tội lỗi ấy cũng nặng như tội lỗi Việt gian, mật thám nếu không phải là tệ hơn thế.

Tháng 1 – 1946, nghĩa là khi Đảng ta đã tuyên bố tự giải tán, sự thực là Đảng rút vào hoạt động bí mật trong một lần trả lời phỏng vấn các nhà báo nước ngoài, Hồ Chí Minh nói: “Vì hoàn cảnh và trách nhiệm, tôi phải đứng ra ngoài mọi đảng phái… Nếu cần có đảng phái thì sẽ là Đảng dân tộc Việt Nam. Đảng đó sẽ chỉ có một mục đích làm cho dân tộc ta hoàn toàn độc lập. Đảng viên của đảng đó sẽ là tất cả quốc dân Việt Nam, trừ những kẻ phản quốc và những kẻ tham ô ra ngoài”. Với ý nghĩa đó, Hồ Chí Minh gọi chống quan liêu, tham ô, lãng phí là việc làm cách mạng.

Do tính chất nguy hiểm của tệ quan liêu và nếu không có những chủ trương, giải pháp thiết thực thì tệ nạn này có khả năng tăng lên cùng với thời gian đảng cầm quyền, nên Hồ Chí Minh chỉ rõ việc chống quan liêu là rất cần thiết và phải làm thường xuyên.

So sánh với đế quốc, với giặc ngoại xâm, Hồ Chí Minh gọi quan liêu, tham ô, lãng phí là giặc nội xâm “giặc ở trong lòng”. Người yêu cầu để kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công, mọi người cần đoàn kết thành một khối chống cả hai loại giặc: Chiến sĩ xuất công, nhân dân xuất của để đánh giặc cứu nước. Tham ô, lãng phí, quan liêu là một thứ giặc “giặc ở trong lòng”. Nếu chiến sĩ và nhân dân ra sức chống giặc ngoại xâm mà quên giặc nội xâm, như thế là chưa làm tròn nhiệm vụ của mình. Hồ Chí Minh quan niệm chống giặc nội xâm “là một cách mạng nội bộ”, cuộc đấu tranh gay go giữa cái xấu và cái tốt, cái cũ và cái mới, giữa đạo đức cách mạng là cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư với kẻ địch là tệ nạn quan liêu, tham ô, lãng phí. Tính chất gay go, phức tạp của cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham ô, lãng phí còn ở chỗ, Hồ Chí Minh chỉ rõ kẻ thù này không mang gươm, mang súng mà nó nằm ngay trong các tổ chức của ta, để làm hỏng công việc của ta. Thấu hiểu tâm tư, tình cảm và cả những vướng mắc, những điều khó nói thành lời của một số cán bộ khi tiến hành cuộc vận động chống quan liêu, tham ô, lãng phí, Hồ Chí Minh viết: Cán bộ và công nhân đều nhất trí tán thành, ai cũng cho là cần phải có cuộc vận động này nhưng khi thi hành thì một số người lo lắng, lo sợ. Nguyên nhân vì trong ba chứng bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí bản thân mình chắc có một bệnh, hoặc nặng hoặc nhẹ. Do tính chất phức tạp, “tế nhị” của cuộc đấu tranh này nên Hồ Chí Minh đòi hỏi: Mọi người dũng cảm tiến lên, mặt khác muốn thắng lợi ở mặt trận này phải có chuẩn bị, kế hoạch, tổ chức.

Hồ Chí Minh cho rằng cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham ô, lãng phí có hai ý nghĩa quan trọng:

Thứ nhất, làm cho mọi người nâng cao tinh thần trách nhiệm, tinh thần làm chủ, hăng hái thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm để xây dựng nước nhà, để nâng cao đời sống của nhân dân và bản thân mình.

Thứ hai, giúp cho cán bộ, đảng viên giữ gìn phẩm chất cách mạng, một lòng một dạ, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Do đó nhân dân ta đã đoàn kết càng đoàn kết thêm, lực lượng ta đã hùng mạnh, càng hùng mạnh thêm.

Theo Hồ Chí Minh trong cuộc đấu tranh chống quan liêu, công tác tư tưởng, lý luận có vai trò to lớn. Hồ Chí Minh luôn khẳng định: Tư tưởng đúng thì hành động đúng, tư tưởng nhất trí thì hành động mới nhất trí. Hồ Chí Minh chỉ rõ: Tư tưởng có thống nhất, hành động mới thống nhất. Tư tưởng và hành động có thống nhất mới đánh thắng được giặc.

Hồ Chí Minh kết luận, sở dĩ có quan liêu, tham ô lãng phí cũng như mọi khuyết điểm khác là do tư tưởng không đúng. Người nêu thí dụ vì thiếu quan điểm quần chúng nên trong công tác mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh.

Để khắc phục được quan liêu mệnh lệnh và những căn bệnh có thể nảy sinh trong điều kiện Đảng cầm quyền, Hồ Chí Minh đòi hỏi phải học tập chủ nghĩa, dùi mài tư tưởng, nâng cao lý luận, chỉnh đốn tổ chức.

Trung thành với tư tưởng Hồ Chí Minh, Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương lần thứ năm (khoá IX) “”về nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới” rất coi trọng chống bệnh quan liêu trong cán bộ, đảng viên, trong bộ máy Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân.

Tại Nghị quyết Trung ương 5 (khoá IX) trong phần “Tình hình tư tưởng, lý luận và công tác tư tưởng, lý luận, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: Nỗi bức xúc của nhân dân hiện nay là còn những bất công xã hội, tệ quan liêu, tham nhũng chưa được ngăn chặn có hiệu quả.

Từ thực tiễn đó ở phần phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu và giải pháp công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới, Nghị quyết Trung ương 5 (khoá IX) viết: Đề cao trách nhiệm của mỗi tổ chức Đảng và đảng viên, đấu tranh loại trừ tham nhũng, quan liêu ở cơ quan đơn vị cơ sở mình. Nghị quyết khẳng định: Cần phải tổ chức học tập một cách nghiêm túc, có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh.

Theo Sách “Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác tư tưởng, lý luận”
(NXB Chính trị quốc gia)

vannghedanang.org.vn

About these ads