Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh – Bài 2

Một số vấn đề phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu về Hồ Chí Minh

~ oOo ~

Phần thứ nhất: MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VỀ HỒ CHÍ MINH

Chương I - Một số vấn đề lý luận chung về phương pháp và phương pháp luận nghiên cứu

Nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh là nghiên cứu tư tưởng, cuộc đời, sự nghiệp của Người nhằm làm sáng tỏ những cống hiến to lớn và ảnh hưởng sâu rộng của Người đối với dân tộc và đối với thế giới. Có tư tưởng Hồ Chí Minh xét về mặt lý luận mà nội dung cốt lõi, chỗ kết tinh và toả sáng của tư tưởng đó là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Có thời đại Hồ Chí Minh mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử Việt Nam xét về mặt thực tiễn. Đó là thời đại phát triển và thắng lợi của cách mạng Việt Nam cùng với ảnh hưởng của nó đối với phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, đối với hoà bình và hữu nghị giữa các dân tộc. Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh là trọng điểm nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Đây cũng là nội dung và phương hướng chủ đạo trong nghiên cứu chuyên ngành. Nó đặt nền móng cho sự ra đời bộ môn Hồ Chí Minh học với tư cách là một khoa học độc lập, nằm trong hệ thống các môn khoa học xã hội và nhân vǎn ở nước ta. Muốn xây dựng hệ thống lý luận và phương pháp nghiên cứu chuyên ngành để có thể sử dụng chúng một cách thành thạo, như những công cụ và những thao tác nghiên cứu, nhằm thúc đẩy việc nghiên cứu đối với môn khoa học còn rất mới mẻ nhưng đầy triển vọng này, cần thiết phải bắt đầu từ những vấn đề chung sẽ được trình bày dưới đây.

I. Mối quan hệ giữa lý luận, phương pháp và phương pháp luận

Lý luận (teorija), phương pháp (metod) và phương pháp luận (metodologija) là những khái niệm khác nhau nhưng có quan hệ mật thiết với nhau. Chúng thống nhất nhưng không đồng nhất.

1. Lý luận (hay lý thuyết) theo chữ Hy Lạp: theoria, theorein – có nghĩa là quan sát, khảo sát, nghiên cứu. Lý luận là hệ thống các luận điểm gắn bó chặt chẽ với nhau về mặt lôgích, phản ánh bản chất, quy luật vận động và phát triển của khách thể được nghiên cứu. Điểm xuất phát của lý luận là thực tiễn. Những kết quả nghiên cứu dưới dạng khái quát hoá và trừu tượng hoá khoa học, sử dụng các khái niệm, phạm trù khoa học để xác lập hệ thống luận điểm và nguyên lý là để biểu thị bản chất, quy luật của đối tượng. Nó chỉ được coi là lý luận và trở thành lý luận nếu qua sự kiểm tra, đối chiếu trong thực tiễn nó tỏ ra phù hợp với thực tiễn. Lý luận, xét theo cách thức sản sinh ra nó, là sản phẩm của tư duy trừu tượng, là kết quả của những nỗ lực chủ quan của người nghiên cứu. Nǎng lực lý luận ở người có trình độ tư duy lý luận cao thống nhất ở hai mặt mâu thuẫn sau đây: Một mặt, nó không bám chắc vào thực tiễn cụ thể, sinh động, đứng vững trên mảnh đất hiện thực – ở đó có đối tượng, có khách thể nghiên cứu của mình để tiến hành mọi hoạt động nghiên cứu theo quan điểm thực tiễn và nhất quán với quan điểm thực tiễn.

Đó là bảo đảm duy nhất chắc chắn cho lý luận được sinh ra một cách chân thực, khách quan, sống động, không rơi vào tình trạng tư biện, tính chất kinh viện, bệnh chủ quan và giáo điều. Mặt khác, nó có khả nǎng bứt ra, tách khỏi cái cụ thể ban đầu, vượt lên trên giới hạn của cái kinh nghiệm để hình thành lý luận, dùng lý luận như là công cụ để nhận thức, khám phá đối tượng ở phía bản chất vốn ẩn giấu bên trong, đằng sau các hiện tượng. Đây là khả nǎng phát hiện và sáng tạo của tư duy lý luận, là ưu thế riêng có của lý luận. Thực tiễn làm phát sinh lý luận. Gắn bó và bám sát thực tiễn sẽ làm cho lý luận phải vượt lên để khỏi bị lạc hậu, đồng thời nhờ thực tiễn mách bảo, gợi ý, thúc đẩy mà lý luận có được khả nǎng vượt trước để dẫn đường. Không có thực tiễn thì không có nội dung của lý luận. Nhưng không có tư duy lý luận và hoạt động nghiên cứu lý luận bởi sự nỗ lực của chủ thể thì lý luận cũng không thể hình thành, không thể “lý luận hoá thực tiễn” và “thực tiễn hoá lý luận” được.

Thấu hiểu sự thống nhất và vai trò của lý luận cũng như của thực tiễn, Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý tới luận điểm của Lênin: “Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng”. Người còn khẳng định rằng: Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc cǎn bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, rằng, lý luận không gắn liền với thực tiễn là lý luận suông, thực tiễn không có lý luận là thực tiễn mù quáng. Lý luận không tồn tại dưới dạng những luận điểm riêng lẻ, rời rạc mà là một hệ thống chặt chẽ, có trật tự lôgích của các luận điểm đó. Tính hệ thống là một đặc trưng nổi bật của lý luận, là yêu cầu của tư duy lý luận. Tiếp cận hệ thống và phân tích hệ thống là một đặc trưng nổi bật của lý luận, là yêu cầu của tư duy lý luận. Tiếp cận hệ thống và phân tích hệ thống trong nghiên cứu khoa học xuất phát từ đòi hỏi đó. Là một hệ thống, lý luận còn được xem xét về mặt kết cấu. Nó bao gồm nhiều thành tố khác nhau nhưng quan trọng nhất là ba thành tố sau đây:

Thứ nhất, các sự kiện khoa học đã tích luỹ được, kể cả nghiên cứu thực nghiệm. Thứ hai, tập hợp các quy tắc, suy lý lôgích và chứng minh được chấp nhận trong khuôn khổ của lý luận. Thứ ba, tập hợp các khái niệm, các nguyên lý cơ bản cùng các quy luật, định lý, các khẳng định, các hệ quả được suy ra từ cǎn cứ thực nghiệm, và từ các khái niệm, các nguyên lý cơ bản ấy bằng con đường suy lý lôgích và chứng minh tương ứng. Mỗi khoa học có lý luận và cơ sở lý luận riêng của nó. Vì vậy môn Hồ Chí Minh học muốn trở thành một bộ môn khoa học độc lập trước hết nó phải xây dựng được cơ sở lý thuyết về đối tượng nghiên cứu của mình. Để nghiên cứu về Hồ Chí Minh trước hết phải xây dưng được lý thuyết về đối tượng nghiên cứu của bộ môn; đó là toàn bộ cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách, lối sống, v.v. của Hồ Chí Minh. Lý thuyết đó bao gồm: – Hệ thống sự kiện có tính quy luật về đối tượng, nghĩa là nó phải phổ biến chứ không đơn nhất, phải phản ánh được bản chất chứ không phải hiện tượng bề ngoài, cái ngẫu nhiên phải là sự biểu hiện của cái tất nhiên. Đó là những sự kiện chính xác, đã qua giám định, xác minh khoa học về các giai đoạn của cuộc đời, hoạt động, trước tác của Hồ Chí Minh từ khi sinh ra đến khi từ biệt thế giới này. Những sự kiện đó được đặt trong mối quan hệ tương tác với quê hương, gia đình, dân tộc, thời đại…

Trong cuộc đời 79 mùa xuân của Hồ Chí Minh, có hơn 30 nǎm Người sống và hoạt động ở nước ngoài, lại đi vào huyền thoại từ rất sớm, ngay từ khi còn sống. Vì vậy, xác lập hệ thống sự kiện có tính quy luật về khách thể nghiên cứu ở đây quả là không đơn giản. – Những kết quả nghiên cứu về Hồ Chí Minh đã đạt được trong mấy chục nǎm qua ở trong nước và nước ngoài, những nhận định, đánh giá chính thức của Đảng và Nhà nước ta về Hồ Chí Minh, những suy lý hợp lôgích của các nhà khoa học đã được khảo nghiệm qua thực tế, có thể chấp nhận được. – Hệ thống khái niệm, phạm trù như là công cụ, phương tiện của bộ môn để chiếm lĩnh đối tượng, cần sớm được làm rõ và chính xác hóa. Hệ thống khái niệm, phạm trù đó có thể ngày càng được mở rộng cùng với việc mở rộng các lĩnh vực nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, các khái niệm cơ bản phải sớm được trao đổi, đi tới nhất trí, làm định hướng cho nội dung và phương pháp nghiên cứu của bộ môn. Thí dụ: tư tưởng Hồ Chí Minh là gì ? (Tư tưởng hay học thuyết, chủ nghĩa ?). Tư tưởng Hồ Chí Minh có phải bao gồm những phạm trù: tư tưởng nhân vǎn, tư tưởng chính trị, tư tưởng kinh tế, tư tưởng quân sự, tư tưởng vǎn hoá, tư tưởng đạo đức,…? Đạo đức Hồ Chí Minh là gì ? Rồi phương pháp Hồ Chí Minh, phong cách Hồ Chí Minh, v.v..

Tóm lại, có xây dựng được hệ thống lý thuyết về đối tượng nghiên cứu – ở đây là Chủ tịch Hồ Chí Minh – mới có thể từ đó bàn tiếp về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Hồ Chí Minh, bởi phương pháp hình thành từ lý luận; lý luận nào phương pháp ấy.

2. Phương pháp được hiểu là cách thức đề cập tới hiện thực, cách thức nghiên cứu các hiện tượng của tự nhiên và của xã hội. Phương pháp là hệ thống các nguyên tắc điều chỉnh hoạt động nhận thức và hoạt động cải tạo thực tiễn xuất phát từ các quy luật vận động của khách thể được nhận thức. Như vậy, phương pháp là sự thống nhất giữa chủ quan và khách quan, nó không phải là phạm trù thuần tuý chủ quan do lý trí đặt ra mà xuất phát từ những quy luật vận động của khách thể đã được con người nhận thức. Cần chú ý là, bản thân các quy luật vận động của khách thể mới chỉ là cơ sở của phương pháp.

Cơ sở lý luận trực tiếp của phương pháp không phải là các quy luật vận động của khách thể này mà là những quy luật đã được nhận thức, được diễn đạt thành lý luận. Do đó, lý luận là hạt nhân của phương pháp, là cái lõi mà từ đó hệ thống các nguyên tắc điều chỉnh tạo nên nội dung của phương pháp được xây dựng. Tóm lại, phương pháp có nội dung sâu sắc. Nó bị quy định bởi đặc điểm, bản chất của khách thể đồng thời con người là chủ thể sáng tạo ra phương pháp.

Cũng chính con người sử dụng phương pháp, mang nó vào hoạt động thực tiễn, dùng nó như một công cụ, một phương tiện để tác động vài đối tượng nhằm đạt tới mục tiêu hoạt động của mình. Nhờ có lý luận khoa học dẫn dắt mà hoạt động của con người trở nên tự giác chứ không mù quáng. Cũng nhờ có phương pháp gắn liền với lý luận mà con người tránh được những mò mẫm, tự phát và đạt được hiệu quả trong hoạt động. Cũng tồn tại như nhau trong môi trường tự nhiên nhưng con vật lệ thuộc tuyệt đối vào tự nhiên và bị bản nǎng, tập tính loài chi phối.

Trong khi đó, con người chỉ lệ thuộc vào tự nhiên một cách tương đối. Nó vừa lấy cái có sẵn trong tự nhiên vừa nhào nặn, biến đổi tự nhiên, làm thêm ra và đem vào trong tự nhiên cái mà tự nhiên không có, như Mác nói, “Tự nhiên là thân thể vô cơ của con người” và con người còn “sáng tạo tạo ra một tự nhiên thứ hai như là tác phẩm nghệ thuật của chính mình”. Đó là quá trình nhân loại hoá tự nhiên bởi con người, do có ý thức chi phối bản nǎng. “Con người là một cây sậy trong tự nhiên nhưng là cây sậy có trí tuệ”.

Trong định đề ấy của Pãtcan, trí tuệ là cái làm nên sức mạnh bản chất con người, nhờ nó, con người sản xuất ra lý luận, tư tưởng, đồng thời với sản xuất ra phương pháp. Như vậy, cũng như lý luận, phương pháp thuộc về nội dung khoa học, nó cũng ở cấp độ lý luận – tư tưởng chứ không phải là hình thức, là cái vỏ thuần tuý để biểu đạt tư tưởng. Phương pháp được xây dựng nên từ trình độ của lý luận chứ không phải bằng kinh nghiệm dù cho sự tích luỹ kinh nghiệm có một vai trò quan trọng to lớn trong sự hình thành phương pháp. Không có lý luận thì không có phương pháp khoa học.

Cũng như vậy, kinh nghiệm phải được tổng kết một cách có lý luận, ở trình độ khoa học, được lý luân hoá mới tham dự vào sự hình thành phương pháp. Sự khéo léo, thuần thục do thói quen và kinh nghiệm tạo ra có thể mang ý nghĩa như những phương pháp , song nó thường chỉ dừng lại ở mức độ là những thao tác kỹ thuật thực hành và phạm vi của nó thường là hạn chế trong những tình huống, những giải pháp cụ thể, khó có thể vươn tới tính khái quát – phổ biến. Chỉ có vũ trang bằng lý luân, dựa trên một cơ sở lý luận vững chắc thì phương pháp mới trở thành phương pháp khoa học.

Hệ thống các phương pháp là đa dạng, tuỳ theo sự phân loại khoa học; có những phương pháp riêng áp dụng trong phạm vi một bộ môn khoa học; có phương pháp chung cho một số bộ môn và có phương pháp phổ biến cho tất cả các bộ môn. Ta thường thấy các phương pháp được sử dụng kết hợp trong nghiên cứu như phân tích và tổng hợp, lôgích và lịch sử, mô tả, phân loại, thống kê, phân tích so sánh và phân tích hệ thống, phỏng vấn – điều tra xã hội học, phương pháp điều tra thực địa (trong khoa học lịch sử, khảo cổ học và dân tộc học), phương pháp chuyên gia…

Trong nghiên cứu tư tưởng – cuộc đời – sự nghiệp Hồ Chí Minh, những phương pháp trên đây đều có thể được chọn lọc để áp dụng, trong đó có cả phương pháp phân tích vǎn bản học là phương pháp thường dùng khi nghiên cứu di sản và lịch sử tư tưởng, phương pháp kết hợp phân tích lịch đại với phân tích đồng đại để làm sáng tỏ sự hình thành và phát triển tư tưởng, quan hệ và ảnh hưởng qua lại giữa vĩ nhân và thời đại lịch sử. Cùng với những phương pháp chung và riêng đó, phương pháp phổ biến trong nghiên cứu và nhận thức khoa học là phương pháp biện chứng.

Đây là một phương pháp triết học mácxít đóng vai trò dẫn đường về thế giới quan và phương pháp luận trong nghiên cứu. Phương pháp biện chứng (dialekticheski metod) – đó là một hệ thống các nguyên tắc điều chỉnh hoạt động nhận thức và thực tiễn, xuất phát từ lý luận biện chứng. Phương pháp biện chứng của triết học Mác là biện chứng duy vật, trong đó biện chứng của cái khách quan quy định biện chứng của cái chủ quan, tư duy biện chứng phản ánh tính biện chứng vốn có của bản thân cuộc sống.

Phương pháp biện chứng duy vật ứng dụng trong nhận thức và nghiên cứu khoa học đòi hỏi người nghiên cứu phải nắm vững và sử dụng thành thạo lôgích biện chứng mà nội dung của nó là hệ thống các nguyên lý (mối liên hệ phổ biến và phát triển), các quy luật nói lên bản chất, cách thức và xu hướng vận động và phát triển và các cặp phạm trù của nhận thức luận (Chung – Riêng, Bản chất – Hiện tượng, Nhân – Quả, Khả nǎng – Hiện thực, Nội dung – Hình thức, Tất yếu – Ngẫu nhiên…).

Từ những nguyên lý, quy luật và phạm trù đó, phương pháp biện chứng duy vật hình thành nên các quan điểm, các nguyên tắc chỉ đạo thế giới quan, phương pháp nhận thức và phương pháp tư tưởng mà tiêu biểu là quan điểm toàn diện, quan điểm phát triển, quan điểm thực tiễn, tính khách quan, tính phê phán và kế thừa có chọn lọc,… trong xem xét các sự vật hiện tượng của thế giới. Nó là một thế giới chỉnh thể, vận động và phát triển trong mâu thuẫn, bằng mâu thuẫn. Nó là một hệ thống mở chứ không đóng kín; là một tập hợp những khái niệm, phạm trù động chứ không phải tĩnh.

Tóm lại, nó là biện chứng chứ không phải siêu hình. Những đặc điểm nêu trên của phương pháp biện chứng duy vật với tư cách là một phương pháp phổ biến cũng đồng thời là nói ý nghĩa phổ quát của phương pháp này như là phương pháp luận. 3. Cấp độ cao nhất của lý luận và phương pháp, ở trình độ khái quát sâu sắc nhất cái bản chất của cả lý luận lẫn phương pháp, là phương pháp luận (metodologija). Phương pháp luận là lý luận về các phương pháp nhận thức và cải tạo thực tiễn. Nó xứng đáng được gọi là học thuyết về phương pháp. Là khoa học về phương pháp, phương pháp luận biểu hiện ra như một hệ thống chặt chẽ các quan điểm, các nguyên lý chỉ đạo việc tìm kiếm, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp.

Có thể khái quát mối quan hệ giữa phương pháp luận với các phương pháp như là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng. Tính thống nhất giữa lý luận, phương pháp và phương pháp luận là ở nguồn gốc, nội dung khách quan của nó, là ở sự chế ước lẫn nhau giữa khách quan và chủ quan, là sự chung đúc trong nó cả thế giới quan và hệ tư tưởng.

Tóm lại, giữa lý luận với phương pháp và phương pháp luận có mối liên hệ nội tại và quy định lẫn nhau. Lý luận là hệ thống các tri thức, khái niệm và phạm trù, có chức nǎng vừa phản ánh, vừa dự báo bản chất, quy luật vận động, phát triển của khách thể nghiên cứu. Do đó, lý luận là cơ sở, là đường dây dẫn đến phương pháp. Người đầu tiên đề cập đến mối quan hệ này là Hêghen. Theo ông, lý luận được tóm tắt trong phương pháp, phương pháp là sự vận dụng của lý luận, lý luận nào, phương pháp ấy. Phương pháp là hệ thống các quy tắc, chuẩn mực, cách thức điều chỉnh nhận thức và hoạt động của con người trong việc tiếp cận lý luận và khảo sát thực tế.

Phương pháp hình thành từ lý luận, nhưng không phải một chiều. Lý luận đẻ ra phương pháp, phương pháp tác động trở lại lý luận, làm cho lý luận phát triển, hình thành lý luận mới; đến lượt nó, lý luận mới lại đẻ ra phương pháp mới. Phương pháp luận là phương thức luận giải, khái quát, lựa chọn và vận dụng các phương pháp, bảo đảm cho sự thiết lập mối quan hệ hài hoà giữa lý luận và phương pháp, giữa khách thể và chủ thể nghiên cứu. Do đó, cũng có thể nói phương pháp luận là cầu nối giữa lý luận và phương pháp. Đó là mối quan hệ ba chiều: giữa nhận thức về đối tượng nghiên cứu (lý luận) với công cụ tác động vào đối tượng (phương pháp) và những nguyên tắc lý thuyết giữ vai trò điều chỉnh, giúp cho quá trình tác động của công cụ vào đối tượng đạt được kết quả tối ưu (phương pháp luận).

Để xâu chuỗi được mối quan hệ trên, cần làm rõ cấp độ của khái niệm nghiên cứu khoa học. Nghiên cứu khoa học là một quá trình khảo sát, phân tích các sự kiện, các mặt, các hiện tượng; thông qua sự mô tả, phân loại và tập hợp các tư liệu và dữ liệu đã thu thập được mà tổng hợp và khái quát thành lý luận. Để tổng hợp và khái quát đúng, người nghiên cứu phải bắt đầu từ chỗ chǎm chú quan sát các hiện tượng, không coi thường và bỏ qua các chi tiết sinh động, cụ thể, những cái tưởng như riêng lẻ, rời rạc, bề ngoài và trên bề mặt của đối tượng, khách thể nghiên cứu.

Vì vậy, quan sát khoa học là quá trình tiếp cận đối tượng của chủ thể. Nó mở đường đi tới những ý tưởng nghiên cứu và hình thành những tư tưởng, những luận điểm khoa học. Nó cũng đồng thời gợi ý và mách bảo người nghiên cứu biết chú tâm vào những sự kiện và hiện tượng tiêu biểu giữa vô số những sự kiện, hiện tượng khác, tìm ra mối liên hệ giữa chúng và những dấu hiệu cho phép xác định đặc điểm, đặc trưng hay thuộc tính nào đó của đối tượng sẽ bộc lộ ra trong vận động.

Sự quan sát như vậy đòi hỏi ở chủ thể nghiên cứu khoa học một nǎng lực lựa chọn trong những cách (phương pháp) tiếp cận khác nhau để độc lập xác định cho mình một hướng đi, một cách (cũng tức là một phương pháp) tiếp cận mới phù hợp và có hiệu quả tới đối tượng. Nghiên cứu khoa học, theo một nghĩa nào đó mà xét, là tìm tòi và phát hiện cái mới, là sản xuất ra tri thức mới ở cấp độ tư tưởng – lý luận khoa học.

Do vậy, bản chất của khoa học, của hoạt động nghiên cứu khoa học là sáng tạo, là sự phát triển không ngừng của trí tuệ. Thực tiễn phát triển của khoa học hiện đại đã cho thấy, kết quả sáng tạo cái mới trong nghiên cứu của nhà khoa học thường được ủ mầm từ những tìm tòi sáng tạo trong phương pháp tiếp cận (podkhodnyj metod) và ứng dụng phân tích hệ thống (sistemnyj analiz) như một phương pháp nghiên cứu.

Điều này đặc biệt rõ và đang có ý nghĩa phổ biến trong nghiên cứu khoa học xã hội, bao hàm cả nghiên cứu lý luận triết học xã hội và chính trị học là lĩnh vực có quan hệ trực tiếp gần gũi nhất với nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong quá trình tiếp cận đối tượng, người nghiên cứu thường phải huy động tổng hợp những hiểu biết của mình về kiến thức, phương pháp và kinh nghiệm, cả tư tưởng, lý luận lẫn vốn sống thực tiễn cùng những kỹ nǎng và kỹ xảo nghề nghiệp để tìm hiểu, nắm bắt và làm chủ đối tượng.

Cùng với tư liệu và sự kiện được tập hợp để quan sát và phân tích, sự huy động tổng hợp những nhân tố nêu trên có trong vốn liếng khoa học của mình, giúp người nghiên cứu xây dựng các giả thuyết và lôgích nghiên cứu, chứng minh và kiểm tra các giả thuyết đó dựa trên thực tiễn đối tượng và thực tiễn đời sống nói chung. Lôgích nghiên cứu sau khi đã thực hiện trong thực tiễn, được kiểm tra, điều chỉnh bởi thực tiễn rồi được chính xác hoá lại và chuyển thành lôgích trình bày các tư tưởng khoa học.

Hệ thống giả thuyết nghiên cứu sau khi được kiểm chứng bởi thực tiễn và đi qua các thao tác như chứng minh, so sánh, phân tích và tổng hợp để giữ lại cái đúng và bổ sung cái mới, loại bỏ cái không đúng hoặc chưa đủ cǎn cứ vững chắc, chưa có độ tin cậy cần thiết,… trở thành hệ thống các luận điểm khoa học cấu thành nội dung lý luận – tư tưởng khoa học như là sản phẩm nghiên cứu.

Các Mác nói tới sự chuyển hoá này bằng tương quan giữa phương pháp nghiên cứu và phương pháp trình bày, giữa đời sống thực tiễn và lý luận, giữa hiện thực và tư tưởng. Tương quan này vừa thống nhất vừa mâu thuẫn, không phải lúc nào cũng trùng hợp, càng không có sự trùng hợp tuyệt đối.

Trong bộ Tư Bản, Các Mác có một luận đề nổi tiếng: Nếu hiện tượng và bản chất của sự vật là nhất trí (trùng khít) với nhau thì tất thảy khoa học sẽ trở nên thừa. Trong Lời nói đầu tác phẩm Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen (1843), Các Mác đã hình dung rất rõ ràng: “Tư tưởng cố gắng biến thành hiện thực vẫn chưa đủ; bản thân hiện thực cũng phải cố sức hướng tới tư tưởng”.

Những điều trình bày trên đây về một số đặc trưng của hoạt động nghiên cứu khoa học xuất phát từ cá thể nghiên cứu cũng là để nói về mối liên hệ giữa lý luận, phương pháp và phương pháp luận nghiên cứu. Đây là những công cụ làm việc mà người nghiên cứu phải trau dồi, mài sắc nó trong suốt cuộc đời nghiên cứu. Đây cũng chính là những cơ sở mà thiếu nó sẽ không thể có bất cứ một kết quả hay một bước tiến nào trong nghiên cứu khoa học.

PGS, PTS. Hoàng Chí Bảo; GS. Nguyễn Đǎng Mạnh;

cpv.org.vn

About these ads